Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Feb 22nd 2018
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME GIÁO HỘI

Giáo Hội

Đức Thánh Cha: Cần hoán cải hàng ngày

Tại nhà nguyện thánh Mác Ta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói: Muốn nên thánh thực ra rất giản dị, vì phải được thực hiện từng bước một mỗi ngày

Ngày 24, tháng 5, 2016

L'Osservatore Romano

Nếu chúng ta muốn trở nên thánh, chúng ta cần phải cải thiện mỗi ngày.

Theo Radio Vatican, Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích như vậy trong bài giảng hàng ngày của Thánh Lễ tại nhà nguyện thánh Mác Ta, trích dẫn từ bài đọc hôm nay là Thư Thứ Nhất của Thánh Phêrô, được ngài gọi là “tiểu luận về sự lành thánh.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh vào bốn yếu tố cần thiết để chúng ta được nên thánh hàng ngày: hoán cải, can đảm, hy vọng và ân sủng.

Hoán cải

Dựa theo lá Thư của Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng việc hoán cải chúng ta được mời gọi, có nghĩa là một cố gắng liên tục để thanh tẩy trái tim.

Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích: “Hoán cải hàng ngày, không có nghĩa là phải đánh mình để đền tội khi làm điều sai trái.

Ngài nói: “Không, không: không có những hoán cải nhỏ nhặt… nếu bạn không thể nói xấu người khác, thì bạn đã đi đúng con đường nên thánh. Thật dễ dàng! Tôi biết là bạn chưa bao giờ nói xấu ai, phải không? Đó là chuyện nhỏ…’Tôi muốn chỉ trích một người láng giềng, một bạn cùng sở’: hãy cắn lưỡi nhẹ một chút. Lưỡi bạn sẽ hơi sưng, nhưng linh hồn bạn sẽ lành thánh hơn trên con đường này. Không có gì to tát, không có việc hành xác: không cần phải như vậy, thật là giản dị. Xin đừng lui bước, mà phải luôn luôn tiến bước, phải chăng? Và với ơn sức mạnh.”

Can đảm

Suy niệm về bài đọc, Đức Thánh Cha nói rằng lành thánh có nghĩa là “bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa mà không có gì bị trách cứ:”

Ngài nói: “Nên thánh là một hành trình; không thể mua được. Không thể bán được. Không thể cho đi. Nên thánh là một hành trình phải thực hiện để đi tới sự hiện diện của Thiên Chúa: không có một ai có thể làm việc này thay tôi. Tôi có thể cầu nguyện cho một người nào đó được nên thánh, nhưng người đó phải hoạt động để tiến tới sự lành thánh, chứ không phải tôi. Bước đi trong sự hiện diện của Thiên Chúa, là hành trình toàn hảo.”

Ngài tiếp: Sự lành thánh hàng ngày có thể “vô danh”, nhưng không nhút nhát, vì “con đường nên thánh đòi hỏi phải can đảm.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Thiên Quốc của Chúa Giêsu thuộc về những ai có can đảm tiến bước” và theo ngài, can đảm được sinh ra nhờ hy vọng, đây là một yếu tố khác dẫn đưa tới sự thánh thiện. Ngài ghi nhận, khi gặp gỡ Chúa Giêsu, chúng ta có được lòng can đảm ‘biết hy vọng.’

Hy vọng và ân sủng

Đức Thánh Cha nhận xét: Yếu tố thứ ba của hành trình nên thánh xuất hiện trong lời thánh Phêrô: “Hãy đặt hết niềm hy vọng vào ân sủng ấy.”

Đức Thánh Cha nói:  Chúng ta không thể tự mình trở nên thánh. “Không thể được, vì đó là nhờ ơn Chúa. Là người tốt lành, thánh thiện là bước tới mỗi ngày ‘một bước nhỏ’ trong đời sống Kitô, là một ân sủng của Chúa và chúng ta phải cầu xin để có thể làm được.” Can đảm là một hành trình, một hành trình chúng ta phải đi với  lòng can đảm, với niềm hy vọng và với ước nguyện là có thể lãnh nhận ân sủng này. Và hy vọng: niềm hy vọng của hành trình.”

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha khuyến khích các tín hữu hãy đọc chương XI của lá thư gửi tín hữu Hippry, kể lại hành trình của các tổ phụ chúng ta, là những người đầu tiên được Chúa mời gọi,” kể cả Abraham, là “người đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhưng đã đi với niềm hy vọng.'”

Đức Thánh Cha nói: Cần vượt thắng những gì là thế tục

Tại nhà nguyện Thánh Mác Ta, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng ngay cả những vị đại thánh cũng phải vất vả mới chống trả được các chước cám dỗ

Vatican: Ngày 17 tháng 5, 2016

Trần thế sẽ cố gắng quyến rũ các bạn, nhưng xin đừng chào thua.

Theo Radio Vatican, Đức Thánh Cha khuyên như vậy trong Thánh Lễ hôm nay tại nhà nguyện Thánh Mác Ta, khi ngài giảng về Phúc Âm trong ngày khi các môn đệ Chúa Giêsu tranh luận với nhau xem ai là người cao trọng nhất.

Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích: “Khi các vị đại thánh nói rằng họ ‘rất tội lỗi’, lý do là vì họ đã ôm ấp những gì là trần thế trong người họ và họ đã có rất nhiều lần bị cám dỗ bởi thế tục.”

Đức Thánh Cha người Á Căn Đình khẳng định: “Không ai trong chúng ta có thể nói rằng: ‘Tôi là người thánh thiện và trong sạch.’”

Ngài nói: “Tất cả chúng ta đều bị cám dỗ bởi những điều này. Chúng ta bị cám dỗ là phải diệt trừ người khác để leo lên cao hơn. Đây là một cám dỗ trần thế, là một cám dỗ gây chia rẽ và phá hủy Giáo Hội. Đây không phải là thần khí của Chúa Giêsu.”

Xin đừng để bị quyến rũ

Đức Thánh Cha Phanxicô than phiền rằng trong khi Chúa Giêsu đang tiên báo cho các môn đệ về sự chịu xỉ nhục và chịu chết sắp xẩy ra cho Ngài, thì họ lại chỉ lo nghĩ đến những gì là trần thế, như là ai sẽ trở thành người quyền năng nhất trong bọn họ.

Suy niệm về điều này, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại điều Chúa Giêsu lưu ý các môn đệ: “Nếu ai là kẻ muốn được cao trọng nhất thì phải là người bé mọn nhất và là đầy tớ của mọi người.”

Đức Thánh Cha khuyên các tín hữu hãy vượt thắng sự quyến rũ của những gì là trần thế và tham vọng của con người, và lưu ý những người chỉ muốn leo thang trong xã hội, và bị cám dỗ để diệt trừ người khác và đạt tới đỉnh cao.

Ngài nói: “Dọc theo con đường Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta đi, nguyên tắc chỉ đạo là việc phục vụ. Cao trọng hơn cả là những ai phục vụ nhiều nhất, phục vụ tha nhân nhiều nhất, chứ không phải là kẻ chỉ khoác lác, chỉ tìm kiếm uy quyền, tiền bạc… danh tiếng, và cao ngạo. Không, những người đó không phải là những kẻ cao trọng nhất.”

Ngài tiếp: “Điều này xẩy ra trong mọi tổ chức của Giáo Hội: giáo xứ, trường đại học, các cơ quan khác, ngay cả tại các giáo phận…tất cả mọi nơi.  Luôn luôn có những tham vọng về những gì là trần thế, và đó là  tài sản, hư danh và kiêu ngạo.”

Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: “Phục vụ và khiêm tốn, y như Chúa Kitô đã trình bầy cho các Tông Đồ và mong đợi nơi các tín hữu của Chúa hôm nay, là ‘con đường chân chính của đời sống Kitô.’”

Đức Thánh Cha kết thúc bằng lời nguyện xin Thiên Chúa “chỉ đường cho chúng ta, để chúng ta hiểu rằng việc yêu quý thế gian, và những gì là trần thế, là kẻ thù của Thiên Chúa.”

Bải giảng của Đức Thánh Cha về Dụ ngôn Người Con Hoang Đàng

Ngày 11 tháng 5, 2016

Bải giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi yết kiến chung:

Anh chị em thân mến

Hôm nay chúng ta hãy suy niệm về dụ ngôn Người Cha nhân hậu. Về người cha và hai người con, và giúp chúng ta biết về lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa.

Chúng ta bắt đầu từ đoạn cuối, nghĩa là về niềm vui của tấm lòng người Cha, khi nói: “Hãy lấy con bê béo làm thịt. Rồi chúng ta hãy mở tiệc ăn mừng, vì con ta đã chết, thì nay đã sống, đã mất, thì nay lại tìm thấy” (Luca 15: 23-24). Với những lời này, người Cha ngăn không cho người con thứ mở miệng nói khi anh muốn thú tội: “Con chẳng đáng được gọi là con Cha nữa…” (19). Tuy nhiên lời nói này quá đau lòng đối với trái tim người Cha, nên ông đã mau mắn phục hồi phẩm giá của người con: mau lấy áo đẹp nhất, nhẫn và dép. Chúa Giêsu không mô tả một người Cha bị xúc phạm và tức giận, một người cha, chẳng hạn, nói với con: “Mày sẽ phải đền tội.” Không, người Cha đã ôm lấy anh, chờ đợi anh với lòng thương mến. Ngược lại, điều độc nhất ông tâm niệm là đứa con đứng trước ông đã được an toàn, và điều này làm cho ông vui sướng và ông cần phải ăn mừng. Việc đón mừng người con trở về được mô tả rất cảm động. “Anh ta còn ở đằng xa thì người Cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để.” (20). Thật là dịu hiền biết bao; ông thấy anh tận đàng xa: điều này có nghĩa gì? Đó là người Cha đã ngày ngày bước ra khỏi cửa để trông ngóng phía con đường, mong con trở về; đứa con đã làm tất cả mọi điều xấu xa, nhưng người Cha vẫn chờ đợi. Lòng nhân từ của người Cha đẹp đẽ biết bao!

Lòng thương xót của người Cha chan hoà, vô điều kiện, và được bầy tỏ ngay trước khi người con mở miệng xin lỗi. Người con chắc chắn đã biết mình có tội và công nhận điều này: “Con đã có tội…xin coi con như một người làm công cho cha vậy”(19). Nhưng những lời này đã tan biến trước sự tha thứ của người Cha. Cái ôm và hôn của người Cha làm cho anh hiểu rằng anh luôn luôn vẫn được coi là một người con, bất kể sự gì. Giáo huấn này của Chúa Giêsu rất quan trọng: điều kiện để chúng ta được làm con cái Chúa là kết quả của tình yêu trong trái tim người Cha; điều ấy không phụ thuộc vào sự kiện chúng ta có xứng đáng hay có làm việc lành hay không, và vì thế, không ai có thể lấy mất đi điều này, ngay cả qủy dữ! Không ai có thể lấy mất đi phẩm giá này.

Lời này của Chúa Giêsu khuyến khích chúng ta không bao giờ tuyệt vọng. Tôi nghĩ đến những người cha và mẹ lo lắng khi thấy con cái xa cách, và bước vào con đường hiểm nguy. Tôi nghĩ đến các cha sở và các thầy cô giáo lý đôi khi nghĩ rằng công trình của họ vô ích. Nhưng tôi cũng nghĩ đến những ai đang ở trong tù và cho rằng cuộc đời họ đã chấm dứt; tất cả những ai đã làm những lựa chọn sai lầm và không còn hy vọng về tương lai; hay tất cả những ai đang đói khát lòng thương xót và tha thứ và tin rằng họ không xứng đáng… Trong bất cứ hoàn cảnh nào trong đời sống, tôi không được quên rằng tôi không bao giờ không còn là một đứa con của Thiên Chúa, của một người Cha luôn yêu thương tôi và chờ đợi ngày tôi quay về. Ngay trong những hoàn cảnh tệ hại nhất trên đời, Chúa luôn chờ đợi tôi, Chúa muốn ôm lấy tôi, Chúa chờ đợi tôi.

Còn có một người con khác trong dụ ngôn, người con cả; anh ta cũng cần phải khám phá được lòng thương xót của người Cha. Anh ta đã luôn luôn ở nhà, nhưng lại hoàn toàn khác biệt với người Cha! Lời anh nói thiếu sự dịu hiền: ”Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng bao giờ trái lệnh…Nhưng khi đứa con kia của cha trở về…’ (29-30). Chúng ta thấy có sự khinh miệt, anh ta không nói “em con”, anh ta chỉ nghĩ đến mình; anh khoe khoang là luôn luôn ở bên người cha và hầu hạ ông; tuy nhiên anh ta chưa bao giờ sống vui vẻ trong sự gần gũi này. Bây giờ, anh ta trách móc người cha là chưa bao giờ cho anh ta một con dê để đãi bạn bè. Tội nghiệp cho người Cha! Một đứa con bỏ đi, còn đứa kia thì thật sự chưa bao giờ gần gũi mật thiết với ông! Nỗi đau của người Cha cũng giống như nỗi đau của Thiên Chúa, nỗi đau của Chúa Giêsu khi chúng ta xa cách Chúa, hay khi chúng ta đi lạc xa đường hay là chúng ta gần gũi mà không thực sự đang gần gũi.

Người con cả cũng cần sự thương xót. Người công chính, những ai tin rằng mình công chính, cũng cần được thương xót. Đứa con này biểu tượng cho chúng ta khi chúng ta tự hỏi xem có nên làm việc vất vả như thế hay không khi chúng ta không nhận được phần thưởng nào. Chúa Giêsu nhắc chúng ta rằng chúng ta không ở trong nhà Cha để được ân thưởng, nhưng vì chúng ta có phẩm giá là những đứa con có trách nhiệm. Không phải là việc mặc cả với Chúa, nhưng là đi theo Chúa Giêsu, Đấng hy sinh hết mình và chịu chết trên thập giá.

“Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. Nhưng chúng ta phải ăn mừng và vui vẻ” (31). Đó là điều người Cha nói với con cả. Đó là  luận lý của lòng thương xót! Người con thứ cho rằng mình đáng bị trừng phạt vì đã có tội; trong khi người con cả lại chờ đợi một phần thưởng cho việc phục vụ của mình. Hai người con không nói gì với nhau; họ sống theo hai tư tưởng khác nhau, nhưng cả hai đều suy nghĩ theo một luận lý hoàn toàn xa lạ đối với Chúa Giêsu: nếu bạn làm điều tốt bạn được thưởng, nếu bạn làm điều xấu thì bạn bị phạt. Và đây không phải là luận lý của Chúa Giêsu. Không phải như vậy! Lý luận ấy đã bị lật đổ bởi lời người Cha: “Chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (31). Người Cha tìm lại được người con, và bây giờ ông có thể đem nó về với người anh! Không có người em thi người anh không còn là một “người anh”. Niềm vui lớn lao của người Cha là được thấy hai người con công nhận nhau là anh em.

Hai người con có thể quyết định là kết hiệp với nhau trong niềm vui của người cha hay là từ chối. Họ phải tự hỏi về ước muốn và viễn ảnh họ có về đời sống của họ. Dụ ngôn kết thúc nhưng không cho biết kết quả: chúng ta không biết người con cả sẽ làm gì. Và đây là một sự thúc đẩy cho chúng ta. Phúc Âm này dậy chúng ta rằng cả hai đều cần phải bước vào nhà người Cha và tham dự vào niềm vui của ông, trong sự ăn mừng về lòng thương xót và tình huynh đệ. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy mở lòng để cũng trở nên có lòng “nhân hậu như người Cha”

Xin đừng là một Kitô hữu ‘xác ướp’ hay một Kitô hữu ‘lang thang’

Tại nhà nguyện Thánh Mác Ta, Đức Thánh Cha nhắc rằng chỉ có Chúa Giêsu mới là con đường

Vatican: ngày 3, tháng 5, 2016

Hôm nay Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc rằng muốn là một Kitô hữu thì con đường độc nhất để theo là Chúa Giêsu, vì Người đã nói: “Ta là con đường.”

Ngược lại với những người đi theo Chúa Giêsu vì Chúa là con đường, Đức Thánh Cha lưu ý những ai đang chỉ là những Kitô hữu “xác ướp” hay một Kitô hữu “lang thang”.

Các Xác Ướp 

“Các Kitô hữu đứng yên, không tiến bước, là các phi-Kitô. Chúng ta không biết chắc họ là ai. Họ là những Kitô hữu hơi bị ‘vô thần hóa’: là những người đứng yên không tiến bước trong đời sống Kitô, không để cho hoa trái của Tám Mối Phúc Thật nở hoa trong đời sống, họ không thực hiện các công trình của lòng thương xót… họ bất động. Tôi xin lỗi khi phải nói rằng họ là những xác chết đã ướp, một xác chết về tinh thần. Có những Kitô hữu là những ‘xác chết về tinh thần,’ bất động. Họ không làm điều gì xấu nhưng họ không làm điều gì tốt.”

Nhng k lang thang

“Họ là những kẻ lang thang trong đời Kitô. Trong đời, họ quay tới quay lui, và vì thế họ đánh mất sự huy hoàng của việc đến gần Chúa Giêsu trong đời sống Chúa Giêsu. Họ lạc đường vì họ liên tục xoay trở, và thường khi chọn lối sai, dẫn đưa họ đến chỗ bí tắc không đường ra.

Khi đổi hướng sau bao nhiêu lần (con đường) trở thành một trận đồ huyền bí, một bến mê, và họ không biết làm sao để ra khỏi. Họi đã để mất tiếng gọi của Chúa Giêsu. Họ không có la bàn để tìm đường ra và họ cứ phải loay hoay tìm kiếm. Có những Kitô hữu kia, trên hành trình đã bị mê hoặc bởi một cái gì và họ dừng lại nửa đường, bị mê hoặc bởi cái gì họ thấy, bởi một ý tưởng, một đề nghị hay một phong cảnh đẹp. Và họ đã dừng lại! Đời sống Kitô không phải là một sự mê hoặc: mà là chân lý! Đó là Chúa Giêsu Kitô!”

Sau đó Đc Thánh Cha khuyên mi người hãy xét xem mình là loại Kitô hu nào:

Khi chúng ta đứng trước những gì chúng ta ưa thích như những gì thế tục và kiêu danh, hay khi chúng ta đang tiến bước và “thực hành Tám Mối Phúc Thật và các công trình bác ái” trong đời sống hàng ngày. Đức Thánh Cha kết luận: con đường của Chúa Giêsu “có rất nhiều sự an ủi, vinh quang, và cả thập giá nữa. Nhưng luôn luôn chúng ta có bình an trong tâm hồn.”

Đức Thánh Cha giảng về dụ ngôn người Samaritanô nhân lành

Vatican: 27 tháng 4, 2016

Đây là tóm lược bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô hôm nay trong buổi triều kiến chung:

Anh chị em thân mến: Trong các bài giáo lý trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, hôm nay chúng ta hướng về dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu. Chúa Giêsu đã giảng dậy về giới răn cao trọng là yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Để trả lời cho câu hỏi: “Ai là láng giềng của tôi?” Chúa Giêsu kể chuyện thầy tư tế và thầy Lêvi đã bỏ đi qua mà không dừng chân cứu giúp một người bị thương bên vệ đường. Lòng đạo đức của họ hết sức giả hình, vì không bầy tỏ được điều gì trong việc họ phục vụ tha nhân.

Chúa Giêsu dậy chúng ta rằng tình yêu không bao giờ trừu tượng hay xa lánh, tình yêu “nhìn thấy” và đáp ứng. Lòng thương cảm của người Samaritanô là hình ảnh của lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn nhận biết những nhu cầu của chúng ta và đến gần chúng ta với lòng yêu thương.

Giới răn yêu Thiên Chúa và tha nhân, như thế có tính cách thực hành tuyệt đối. Giới răn này đòi hỏi phải săn sóc cho kẻ khác đến mức phải hy snh chính mình.

Vào khúc cuối của dụ ngôn, chúng ta thấy “người láng giềng” không chỉ riêng là một người cần được giúp đỡ, mà là người đáp ứng cho nhu cầu của người kia với lòng thương cảm.

Chúa Giêsu dậy chúng ta phải là những láng giềng tốt theo nghĩa này: Đó là “Hãy ra đi và cũng làm y như vậy.”

Chính Chúa là gương sáng về Người Samaritanô nhân hậu; bằng cách bắt chước tình yêu và lòng cảm thương của Chúa Giêsu, chúng ta mới chứng tỏ được rằng chúng ta đích thực là những môn đệ của Người.

Tôi chào mừng các khách hành hương nói tiếng Anh tham dự buổi triều kiến chung hôm nay, nhất là những vị đến từ Anh Quốc, Thụy Điển, Slôvac, Trung Quốc, Indonesia, Singapore,  Sri Lanka, Việt Nam, Phi Luật Tân, Canada và Hoa Kỳ. Trong niềm hân hoan mừng Chúa Phục Sinh, Tôi cầu xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, là Đấng giầu lòng thương xót ban phúc cho tất cả quý vị và gia đình.

Chúng ta đều là những kẻ có tội, cho nên xin đừng đạo đức giả

Vatican: 20/4/2016: Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích về lòng thương xót: Các bác sĩ không thể sợ bị nhiễm trùng vì bệnh nhân.

Xin đừng đạo đức giả và phán đoán kẻ khác y như chính mình  không bao giờ phạm tội.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh điều này trong bài giảng sáng nay tại quảng trường Thánh Phêrô trong buổi triều kiến chung, khi ngài suy niệm về Thánh Kinh Thánh Luca nói về người Pharisêu Simon và người đàn bà có tội được Chúa Giêsu tha thứ.

Ngài nói rằng trình thuật này chứng tỏ lòng thương xót một cách rõ ràng. Đức Thánh Cha ghi nhận rằng ông Simon muốn mời Chúa Giêsu đến nhà vì đã nghe nói đến những gì tốt đẹp Chúa đã làm và Chúa là một tiên tri cao trọng. Trong khi mọi người ngồi ăn trưa, một phụ nữ được tất cả mọi người trong thành biết tiếng là người tội lỗi bước vào. Bà này không nói gì cả, đã đến quỳ trước chân Chúa Giêsu và oà khóc, nước mắt bà làm ướt chân Chúa. Sau đó bà đã lấy tóc mình để lau chân Chúa, hôn chân Người, và xức dầu thơm bà mang trên mình lên chân Chúa. Nhận thấy lòng chân thành của đức tin và sự hối cải của bà, Chúa đã nói rằng các tội lỗi của bà đã được tha, và bà có thể đi về bình an.

Đức Thánh Cha so sánh: Simon, một ‘người tuyệt đối trung thành với lề luật’, đã phán đoán kẻ khác theo bề ngoài, trong khi người đàn bà đã bầy tỏ lòng thành của mình qua các cử chỉ của bà.

Đức Thánh Cha Phanxicô giải thích: Người Phasisêu phản đối Chúa Giêsu vì đã để cho bị ‘nhiễm độc’ bởi người tội lỗi.

Đức Thánh Cha nói: Mặc dầu Simon mời Chúa Giêsu đến nhà, ông không muốn bị ảnh hưởng hay phải dính líu cuộc đời với Chúa, trong khi người đàn bà lại hoàn toàn tin cậy nơi Chúa với tấm lòng yêu mến và tôn kính..

Đừng sợ bị nhiễm độc

Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Lời Chúa dậy chúng ta biết phân biệt giữa tội lỗi và người có tội: “Với tội lỗi chúng ta không thể bao dung, trong khi với người có tội – nghĩa là tất cả chúng ta! – tất cả chúng ta đều có bệnh, cần được chữa lành, và muốn chữa bệnh, bác sĩ phải đến gần, thăm hỏi họ, và đụng chạm tới họ. Và dĩ nhiên, người bệnh, muốn được chữa lành thì phải công nhận họ cần có bác sĩ.”

Lòng chân thành đem lại sự tự do

Đức Thánh Cha nhắc: Không sợ bị ‘lây’, Chúa Giêsu tha thứ cho bà. Chúa có tự do khi làm như vậy, nhờ sự gần gũi với Thiên Chúa, là Cha của các Lòng Thương Xót.

“Và sự gần gũi mật thiết với Thiên Chúa, Đấng giầu lòng xót thương, đã khiến cho Chúa Giêsu có sự tự do. Thực vậy, bước vào mối tương quan với kẻ tội lỗi, Chúa Giêsu chấm dứt tình trạng cô lập hoá của phán xét vô lương tâm của người Pharisêu và các đồng bạn của ông – là những người khai thác lợi dụng bà – và lên án bà.”

Chúng ta hãy nhìn vào nội tâm

“Tất cả chúng ta đều là người tội lỗi, nhưng thường khi chúng ta bị rơi vào chước cám dỗ của lòng đạo đức giả, là tin rằng chúng ta tốt lành hơn người khác để nói rằng: “Hãy nhìn xem tội lỗi của bạn kìa…”

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp: “Ngược lại, tất cả chúng ta nên nhìn vào tội lỗi chúng ta, những sa ngã, những sai lầm, và ngước nhìn lên Chúa. Đây là con đường cứu rỗi: mối tương quan của “Tôi” kẻ tội lỗi và Chúa.”

Đức Thánh Cha suy niệm: sự hối cải của người đàn bà tội lỗi trước mắt tất cả mọi người cho thấy nơi Chúa Giêsu sáng rực quyền năng của lòng thương xót của Thiên Chúa, có khả năng biến cải các tâm hồn.

Đức Thánh Cha  nói: Người đàn bà tội lỗi dậy cho chúng ta biết sự nối kết giữa đức tin, tình yêu và lòng biết ơn. Ngài ghi nhận rằng kẻ được tha thứ lại được ban cho khả năng yêu thương, trong khi những ai chỉ được tha thứ chút ít, thì chỉ yêu thương rất ít.

Đức Thánh Cha Phanxicô kết thúc bằng việc cầu nguyện cho chúng ta được ban ơn đức tin, và khuyến khích chúng ta tạ ơn Thiên Chúa về Tình Thương cao cả chúng ta không xứng đáng được lãnh nhận nơi Người.

Tân Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ

Tân Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ

 

Washington DC – Hôm nay Thứ Ba ngày 12/4/2016, ĐTC Phanxicô bổ nhiệm Đức Tổng Giám Mục Christophe Pierre làm Tân Sứ Thần Tòa Thánh Hoa Kỳ. Đức Tổng Pierre sinh ngày 30/1/1946 tại Rennes, Pháp; Thụ phong linh mục năm 1970; Làm sứ thần Tòa Thánh tại Haiti (1995-1999), Uganda (1999-2007), và Mexcio (2007-2016).

Một sứ thần Tòa Thánh là đại của Đức Giáo Hoàng trong một quốc gia có quan hệ ngoại giao đầy đủ với Tòa Thánh.

Đức Tổng Giám Mục Joseph E. Kurtz, TGM Louisville, Kentucky, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ vui mừng, hoan nghênh việc bổ nhiệm của Đức Thánh Cha. Ngài nói: Thay mặt cho Anh Em Giám Mục ở Hoa Kỳ, con kính gửi đến Đức Tổng Pierre lời chào chân thành và hỗ trợ cầu nguyện của con khi Đức Tổng dấn thân vào công việc mục vụ cho quốc gia chúng con. Một sự gần gũi chia sẻ với Giáo Hội tại Mexico đã tạo ra một tình cảm anh em mạnh mẽ giữa chúng con với nhau. với tình cảm triều mến, cho phép con cảm ơn đến Đức Tổng Giám Mục Viganò về những đóng góp vô vị lợi của ngài cho đời sống Giáo Hội Hoa Kỳ.

Lm Peter Võ Sơn (nguồn tin Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ).

Đức Thánh Cha lưu ý không được giải thích sai lạc lề luật để khép kín sự thật

Vatican: Ngày 11 tháng 4, 2016

Sáng nay trong bài giảng của Thánh Lễ tại nhà nguyện Thánh Mác Ta, Đức Thánh Cha Phanxicô lưu ý về việc phán đoán mọi người bằng cách giải thích sai lạc Lời Chúa và Lề Luật của Chúa.

Đức Thánh Cha trích dẫn bài đọc thứ nhất trong đó Stêphanô bị kết án là “nói những lời phạm thượng đối với Môisen và Thiên Chúa.”

Ngài nói: những kẻ chống đối Stêphanô, “đã khép kín trước sự thật của Thiên Chúa, và chỉ ôm lấy sự thật của lề luật, và giải thích luật lệ theo từng chữ một. Họ không tìm được lối thoát nào khác hơn là dối trá, làm chứng gian, và cái chết.”

Đức Thánh Cha nhắc rằng Chúa Giêsu đã quở trách họ về thái độ này, vì “cha ông họ đã sát hại các tiên tri”, và bây giờ họ đang xây dựng các đài tưởng niệm các tiên tri ấy. Ngài nói câu trả lời của “các luật sĩ” có tính cách nghi kỵ và đạo đức giả khi họ nói rằng đây là điều đã khởi sự ngay từ thời cha ông của họ, và họ cũng phải làm giống như vậy.

Do đó Đức Thánh Cha nói: họ rửa tay trước mọi sự và cho rằng họ trong sạch. Nhưng “trái tim họ đã khép kín trước Lời Chúa và sự thật, cũng như khép kín trước những thiên sai của Chúa đang mang đến những lời tiên tri giúp cho Dân Chúa tiến bước.”

Đức Thánh Cha nói: “Tôi đau lòng khi đọc đọan Thánh Kinh theo thánh Mát-Thêu, khi Giuđa, sau khi đã sám hối, đến với các thượng tế và kỳ mục và nói: ‘Tôi đã phạm tội’ và muốn trả lại các đồng bạc cho họ. Thì họ trả lời: ‘Can gì đến chúng tôi! Mặc kệ anh!’ Họ đã khép kín trái tim trước con người khốn nạn, đang sám hối, và không biết phải làm gì, khiến cho anh ta đi treo cổ tự tử. Và họ đã làm gì sau khi Giuđa tự vẫn, họ nói: ‘Hắn có thực sự là con người khốn nạn không? Không! Không được bỏ tiền vào Đền Thờ, vì đây là giá máu’… và họ nhắc đến lề luật ấy .. vì họ là các luật sĩ.”

Đức Thánh Cha nhận xét: Sự sống của một con người không can hệ gì đến họ, họ không quan tâm gì đến sự thống hối của Giuđa. Ngài tiếp: Thánh Kinh nói rằng Giuđa quay trở lại và sám hối. Nhưng đối với họ điều quan trọng là “lề luật, và có biết bao nhiêu chữ và điều luật họ đã đặt ra.”

Ngài nói: việc này cho thấy sự chai đá của trái tim họ. Chính sự ngu dại của trái tim họ đã khiến cho họ không thể chịu nổi sự khôn ngoan về sự thật của Stêphanô, do đó họ đã tìm kiếm các người chứng gian để kết án ông. Đức Thánh Cha tiếp: Stêphanô cũng bị kết thúc y như các tiên tri và như Chúa Giêsu. Và điều này tiếp tục tái diễn trong lịch sử Giáo Hội:

Ngài nói: “Lịch sử cho biết có nhiều người bị lên án và bị giết hại, mặc dầu họ vô tội: họ bị kết án dựa theo Lời Chúa, và phản lại lời Chúa. Chúng ta hãy nghĩ đến vụ truy nã các phù thủy hay đến Thánh Gioanna Thành Arc, và rất nhiều người khác đã bị hỏa thiêu, bị lên án bởi các quan tòa vì họ không theo đúng Lời Chúa.”

Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng chính Chúa Giêsu cũng cuối cùng bị đóng đanh trên thập giá vì đã tin tưởng vào Lời Chúa và tuân hành Lời Chúa, và ngài nhắc nhớ các tín hữu về lời dịu hiền Chúa Giêsu nói với các môn đệ trện đường Emmau: “Các anh chẳng hiểu gì cả, Lòng các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ.”

Đức Thánh Cha kết luận: “Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa đoái nhìn đến những sự điên rồ nhỏ nhặt của trái tim chúng ta với cùng một lòng nhân từ và nói với chúng ta: ‘Lòng các con thật là khờ dại và chậm tin’ và sau đó xin giải thích cho chúng ta.”

Lòng thương xót của Thiên Chúa vô bờ, Người tha thứ hết mọi tội lỗi chúng ta

Bài giảng của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ Lòng Thương Xót Chúa

“Thiên Chúa thật sự xoá sạch hết mọi tội lỗi chúng ta tận gốc rễ, và xoá đi tất cả.”

Các bạn thân mến,

Hôm nay chúng ta chấm dứt các bài giáo lý về Lòng Thương Xót trong Cựu Ước và chúng ta cùng nhau suy niệm về Thánh Vịnh 51, có tên là “Miserere”. Đây là một kinh cầu xám hối, trong đó lời xin tha thứ của người cầu nguyện được thực hiện sau khi xưng tội, để được thanh tẩy bởi tình yêu của Chúa,  người này trở nên một tạo vật mới, có khả năng vâng lời, với một tinh thần vững mạnh và một lời ngợi ca chân thành.

Tên “Miserere” của Thánh Vịnh theo truyền thống Do Thái xưa cổ đã đề cập đến vua Đa Vít và tội ngài đã phạm với Bétsabê, vợ của tướng Uria. Chúng ta đều biết rõ câu chuyện này. Vua Đa Vít, được Thiên Chúa sai cho lãnh đạo Dân Chúa và hướng dẫn họ trên con đường tuân theo Luật Thánh. Ông đã phản bội sứ mệnh này, sau khi phạm tội ngọai tình với Bétsabê, và đã giết hại chồng bà. Một tội lỗi kinh khủng! Tiên tri Nathan đã khơi bầy lỗi phạm của ông và giúp ông nhận biết tội của mình. Đó là lúc ông được hoà giải với Thiên Chúa, qua việc thú tội. Và lúc đó, Đa Vít đã trở nên khiêm nhu, đã trở thành cao cả!

Những ai cầu nguyện với Thánh Vịnh này cũng được mời gọi để có cùng những tâm tình thống hối và cậy trông nơi Chúa như Đa Vít khi ông tỉnh thức, và mặc dù ông là vua, ông đã hạ mình không sợ hãi việc thú tội và trình bầy sự đau khổ với Chúa, nhưng ông cũng tin chắc vào lòng thương xót của Chúa. Nhưng đây không phải là một tội nhẹ, hay một lời nói dối nhỏ, điều ông đã làm là ngọai tình và giết người!

Thánh Vịnh bắt đầu bằng những lời cầu khẩn này:

“Lạy Thiên Chúa, xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm, tội lỗi con xin Ngài thanh tẩy.” (câu 3-4).

Lời cầu khẩn này được dâng lên Thiên Chúa xót thương để, khi được thúc đẩy bởi một tình yêu to tát của một người cha hay người mẹ, sẽ tỏ lòng xót thương, nghĩa là ban ơn phúc, bầy tỏ tình thương và thông cảm. Đây là một tiếng kêu khẩn cấp dâng lên Thiên Chúa vì chỉ có Người là có thể giải thoát khỏi tội lỗi. Những hình ảnh rất mềm mại này đã được xử dụng: Xin xoá bỏ, rửa sạch và thanh tẩy con.

Kinh cầu này biểu hiệu nhu cầu khẩn thiết của con người: điều duy nhất chúng ta thực sự cần đến trong cuộc đời là được tha thứ. Được giải thoát khỏi sự dữ và những hậu quả của sự chết. Tiếc thay, đời sống nhiều khi khiến chúng ta có cảm nghiệm về các trường hợp này: và trong các trường hợp này, trước hết, chúng ta phải trông cậy vào lòng thương xót Chúa. Thiên Chúa cao cả hơn tội lỗi chúng ta! “Lạy Cha, con không biết nói sao, con đã phạm nhiều tội to lớn, nhiều lắm!” Thiên Chúa cao cả hơn tất cả các tội lỗi chúng ta có thể mắc phạm. Chúng ta hãy đồng thanh nói như vậy được không? Hãy đồng thanh nói lên! Thiên Chúa cao cả hơn tất cả mọi tội lỗi chúng ta . Nào cùng nhau nói một lần nữa! Thiên Chúa cao cả hơn tất cả mọi tội lỗi chúng ta!

Trong tình yêu của Chúa là một biển cả chúng ta có thể chìm ngập mà không sợ bị chết đuối: đối với Chúa, tha thứ có nghĩa là ban cho chúng ta niềm tin rằng Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Dù chúng ta có thể tự trách mình đến đâu. “Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội của chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự (1 Ga 3, 20)”, bởi Người cao cả hơn tội lỗi của chúng ta.

Theo ý nghĩa này, ai cầu nguyện với Thánh Vịnh này tìm kiếm sự tha thứ, phải xưng tội, nhưng khi nhận tội, người này tuyên xưng sự công chính và thánh thiện của Thiên Chúa. Hơn nữa, người ấy còn cầu xin lòng thương xót Chúa. Nhà Thánh Vịnh tin tưởng vào lòng nhân từ của Chúa, ngài nói rằng sự tha thứ của Chúa hiển nhiên là có hiệu quả, vì Thiên Chúa đã tạo nên những gì ngài nói. Chúa không che dấu tội lỗi, ngài tiêu diệt và xoá bỏ; Người còn xoá bỏ tận gốc rễ tội lỗi, không như tiệm nhuộm mầu khi chúng ta mang quần áo có vết dơ tới để được tẩy xoá. Không phải như vậy! Thiên Chúa thật sự xoá hết tội lỗi chúng ta tận gốc rễ, xoá tất cả! Vì thế kẻ thống hối trở nên trong sạch, mọi vết nhơ đã bị tẩy xoá hết, và bây giờ trắng hơn tuyết trinh trong. Tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi. Đúng thế phải không? Nếu có ai trong các bạn cho rằng mình không có tội, xin hãy giơ tay lên… Không ai giơ tay! Vậy thì tất cả chúng ta đều có tội.

Với sự tha thứ, là kẻ có tội, chúng ta trở nên những tạo vật mới, tràn đầy Thánh Thần và niềm vui. Bây giờ, một thực tại mới khởi đầu cho chúng ta: một trái tim mới, một đời sống mới. Là kẻ có tội được tha, chúng ta đã lãnh nhân ơn thiêng, chúng ta còn có thể hướng dẫn người khác không phạm tội nữa. “Nhưng lạy Cha, con yếu đuối lắm, con cứ tiếp tục sa ngã, sa ngã hoài – Nhưng nếu con sa ngã, thì hãy trỗi dậy! Trỗi dậy đi!” Khi một đứa bé ngã, nó làm gì? Nó giơ tay cho bố hay mẹ nó đỡ nó lên. Chúng ta hãy cũng làm như vậy! Nếu bạn sa ngã vào vòng tội lỗi vì yếu đuối, hãy giơ tay lên: Chúa sẽ cầm lấy tay bạn và giúp bạn đứng lên. Chính đây là phẩm giá của sự tha thứ của Chúa! Phẩm giá của sự tha thứ của Chúa là để nâng chúng ta lên, là để giúp chúng ta luôn luôn đứng thẳng được, vì Chúa đã tạo dựng người nam và nữ để họ đứng thẳng.

Nhà Thánh Vịnh viết:

“Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thủy…Đường lối Ngài, con sẽ dậy cho người tội lỗi, ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài” (câu 12.15).

Các bạn thân mến, sự tha thứ của Thiên Chúa là điều tất cả chúng ta đều cần thiết, và là dấu chỉ lớn lao nhất của lòng thương xót Người. Một ơn lành mà mọi người tội lỗi đã được tha thứ được mời gọi để chia sẻ với tất cả mọi người anh chị em mình gặp gỡ. Tất cả những ai Chúa đặt để bên cạnh chúng ta, các thành viên của gia đình, bạn bè, người cùng sở làm, các giáo dân… cũng như chúng ta, họ cần đến lòng thương xót của Chúa. Được tha thứ sung sướng biết bao, nhưng bạn cũng thế, nếu bạn muốn được tha thứ, hãy cũng tha thứ cho kẻ khác. Xin hãy tha thứ!

Chớ gì, qua sự cầu bầu của Mẹ Maria, Mẹ Xót Thương, Thiên Chúa sẽ giúp cho chúng ta trở nên những nhân chứng của sự tha thứ của Người. Sự tha thứ thanh tẩy các tấm lòng và đổi mới các đời sống. Cám ơn các bạn.

Chúa Kitô Phục Sinh, lòng thương xót Chúa hoạt động trong lịch sử Giáo Hội

Vatican 28/3/2016

Lời Đức Thánh Cha trước Kinh Nữ Vương Thiên Đàng

Chào các bạn thân mến

Vào ngày thứ hai tuần bát nhật Phục Sinh còn được gọi là “Thứ Hai của Thiên Thần”, trái tim chúng ta vẫn còn tràn đầy niềm vui Phục Sinh.

Sau thời gian Mùa Chay, là thời kỳ xám hối và hoán cải, Giáo Hội đã sống sốt sắng đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, sau khi cử hành Tam Nhật Thánh, hôm nay chúng ta đứng trước ngôi mộ Chúa Giêsu trống rỗng, và chúng ta suy niệm một cách kinh ngạc và biết ơn về mầu nhiệm cao cả của việc Chúa Phục Sinh.

Sự sống đã chiến thắng sự chết! Lòng thương xót và tình yêu đã chiến thắng tội lỗi. Chúng ta cần có đức tin và niềm hy vọng để mở lòng trước chân trời mới và huy hoàng này.

Hãy để cho chúng ta bị xâm chiếm bới các cảm xúc đang vang dội trong Mùa Phục Sinh: “Phải, chúng ta chắc chắn rằng Chúa Kitô đã thực sự sống lại!”

Chân lý này đánh dấu đời sống của các môn đệ Chúa, sau khi Chúa sống lại, họ lại cảm thấy cần phải đi theo Thầy, và sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, họ đã ra đi, không sợ hãi, và loan truyền cho tất cả mọi người những gì chính họ đã thấy và đã có kinh nghiệm bản thân.

Trong Năm Thánh này, chúng ta được mời gọi để tái khám phá và tiếp nhận với lòng sốt sắng đặc biệt lời loan báo khích lệ về việc Chúa phục sinh: “Chúa Kitô, niềm hy vọng của tôi đã sống lại!”

Nếu Đức Kitô đã sống lại, chúng ta có thể coi mỗi biến cố trong đời, dù bi thảm đến đâu, với con mắt và trái tim đổi mới. Những giây phút tối tăm, thất bại, và tội lỗi có thể được biến đổi và loan báo một con đường mới. Khi chúng ta đã xuống tới tận cùng đáy sâu của đau khổ, và của sự yếu đuối, Đức Kitô sống lại sẽ ban cho chúng ta sức mạnh để trỗi dậy. Nếu chúng ta trông cậy nơi Chúa, thì ân sủng của Người sẽ giải cứu chúng ta! Chúa bị đóng đanh và sống lại là sự mạc khải toàn vẹn của lòng thương xót, hiện diện và hoạt động trong lịch sử.Đây là sứ điệp Phục Sinh vẫn còn vang vọng ngày nay trong suốt Mùa Phục Sinh và cho đến Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.

Mẹ Maria đã là chứng nhân thầm lặng của các biến cố của cuộc khồ nạn và phục sinh của Chúa Giêsu. Mẹ đã đứng bên thập giá: Mẹ đã không qụy ngã trước sự đau đớn, vì đức tin của Mẹ đã khiến cho Mẹ vững mạnh. Trong trái tim của người mẹ bị xé nát, vẫn luôn rực cháy ngọn lửa hy vọng.

Chúng ta hãy xin Mẹ giúp chúng ta cũng đón nhận toàn vẹn lời loan báo Phục Sinh, để du nhập trong cụ thể của đời sống hàng ngày. Xin Mẹ Maria Đồng Trinh ban cho chúng ta sự xác tín rằng mỗi bước chân chịu đau khổ trên đường đời đều được soi sáng bởi ánh sáng Phục Sinh, đều trở nên sự chúc lành và niềm vui cho chúng ta và cho kẻ khác, nhất là những ai đang đau khổ vì người đời ích kỷ và dửng dưng.

Chúng ta hãy khẩn cầu Mẹ với niềm tin cậy sốt mến, qua kinh Nữ Vương Thiên Đàng, Lời kinh thay thế Kinh Truyền tin trong suốt Mùa phục Sinh. 

Page 5 of 97