Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Friday
Nov 24th 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Giáo Hội

Giáo Hội

Giáng Sinh: Thiên Chúa muốn an ủi Dân Người

Thánh Lễ ngày 6 tháng 12, tại nhà nguyện Thánh Mác Ta

Đức Thánh Cha Phanxicô giảng trong Thánh Lễ ngày 6 tháng 12:  “Tin vui Giáng Sinh là Thiên Chúa đến với quyền năng, đặc biệt quyền năng này là những vuốt ve, dịu hiền, Người đến để an ủi Dân Người.”

Ngài đã đề nghị xin Chúa ban cho ân sủng này, là “mong chờ Giáng Sinh với những vết thương, những tội lỗi, đã thành thực thú nhận, và chờ đợi Thiên Chúa quyền năng đến để an ủi chúng ta, Người đến với quyền năng, nhưng quyền năng này là sự dịu hiền, là những vuốt ve phát xuất từ trái tim đầy lòng thương xót, trái tim đã muốn dâng hiến sự sống cho chúng ta.”

Đức Thánh Cha đã giảng về các bài đọc - Isaiah tuyên bố sự an ủi Israel và dụ ngôn con chiên đi lạc – và mời gọi một sự hân hoan chân thành: “Trước Giáng Sinh, chúng ta cấu xin ân sủng là tiếp nhận tin vui này với lòng hân hoan vui sướng, và cũng để cho Chúa an ủi chúng ta.”

Ngài giải thích: “Chúa đến và khi Chúa đến, Ngài sẽ chạm đến các tâm hồn với tâm tình thương yêu của Người. Người đến như một vị thẩm phán, nhưng là một quan toà an ủi, vổ về, một quan taà đầy dịu hiền, làm tất cả để cứu rỗi chúng ta. Vì Thiên Chúa phán xét với tình yêu, yêu nhiều đến nỗi đã gửi Con Một  của Người xuống thế, không phải để phán xét mà để cứu rỗi. Vì thế sự phán xét của Thiên Chúa luôn mang theo niềm hy vọng là được cứu rỗi.”

Đức Thánh Cha đã nhận xét về thái độ của người chăn chiên: “Các bạn nghĩ sao? Nếu một con chiên đi lạc, lại không bỏ mặc 99 con kia trên núi để đi tìm con chiên lạc sao?  Khi Thiên Chúa đến, Người không nói: ‘Tôi đã tính rồi, nếu tôi mất một con thì còn 99, như vậy là không có sao.” Không, không thể được, vì mỗi con đều duy nhất. Mỗi con đều khác biệt.” Và Người yêu thương từng con một. Người không chỉ yếu tất cả như một tập thể. Không! Người không yêu chúng ta bằng tên tuổi chúng ta, Người yêu chúng ta dù chúng ta bất toàn.”

Rồi Đức Thánh Cha đã nhắc đến hình ảnh của tông đồ Giuđa: “Đối với tôi, hình ảnh làm cho tôi hiểu hơn thái độ của Chúa đối với con chiên lạc chính là thái độ của Chúa đối với Giuđa. Con chiên lạc hoàn toàn nhất của Phúc Âm chính là Giuđa”.

Đức Thánh Cha nói: “Giuđa bỏ trốn vì hắn là một kẻ cắp, còn người khác lại trốn đi vì họ giầu sang, và vì có sự đen tối trong tim họ khiến cho họ bỏ tập đoàn. Cuộc sống nước đôi này tiếc thay lại của biết biết bao nhiêu tín hữu, và cả những linh mục và giám mục nữa. Và Giuđa cũng là một giám mục, một trong những giám mục tiên khởi.”

Do đó, Giuđa cũng là một con chiên lạc. tội nghiệp thay, người anh em khốn nạn này, như Don Mazzolari, trong bài giảng tuyệt vời đã nói: “Anh Giuđa ơi, đã có sự gì xẩy ra trong tim anh?”

Đức Thánh Cha đã nhắc đến sự hối hận của Giuđa: “Thiên Chúa rất nhân lành, cả đối với con chiên lạc này, và Người không ngưng đi tìm kiếm nó. ‘Giuđa đã treo cổ và hối hận.’ Tôi tin rằng Chúa đã ghi nhận câu này và đã mang theo bên mình. Nhưng câu này có nghĩa gì? Đó là cho đến cùng tình yêu của Thiên Chúa vẫn họat động trong tâm hồn ấy, cho đến phút nó tuyệt vọng. Đó là thái độ của chủ chiên nhân lành đối với những con chiên lạc.”

Đức Thánh Cha  kết luận: “Đây chính là nền tảng của tin vui về Giáng Sinh, đòi hỏi chúng ta phải thật lòng vui sướng và đổi mới tâm hồn, để cho chúng ta được Chúa an ủi. Ai không biết đến những vuốt ve của Chúa Giêsu thì không biết đến học thuyết của Thiên Chúa giáo. Ai không để cho mình được Chúa vuốt ve thì đã đi lạc mất. Chính đó là tin vui, là sự vui sướng chân thành chúng ta muốn có hôm nay. Đó là niềm vui, là niềm an ủi chúng ta tìm kiếm: là Chúa đến với quyền năng của Người là những vuốt ve, để tìm kiếm chúng ta, để cứu rỗi chúng ta, như con chiên lạc, và để đem chúng ta trở về với đoàn chiên là Giáo Hội của Người.”

‘Một trong những thảm trạng ghê gớm nhất trên thế giới là việc buôn người’

Đức Thánh Cha cám ơn Hội RENATE về các họat động nhắc nhớ chúng ta về ‘Các nỗ lực lớn lao nhưng thầm lặng’ để chăm sóc cho những người bị tổn thương về phẩm giá và đã phải mang những vết sẹo vì những kinh nghiệm đau thương.”

Osservatore Romano, ngày 7 tháng 11, 2016

 “Một trong những vết thương ghê gớm nhất trên thế giới là việc buôn người . Đây là một hình thức nô lệ tân thời, vi phạm phẩm giá Chúa ban, của bao nhiêu người anh chị em chúng ta và là một tội phạm đối với nhân lọai”

Đức Thánh Cha Phanxicô hôm nay nhấn mạnh điều này khi ngài tiếp kiến các hội viên của hệ thống các Dòng Tu tại Âu Châu chống việc buôn người và khai thác con người (Religious in Europe Networking Against Trafficking and Exploitation: RENATE). Hiệp hội này đến Rôma từ ngày 6 đến ngày 12 tháng 11, 2016 để tham dự Hội Nghị Âu Châu lần thứ Hai với chủ đề “Việc chấm dứt tệ trạng buôn người phải bắt đầu từ chúng ta.”

Đức Thánh Cha công nhận ngay là đã có nhiều thành quả trong việc tạo dựng ý thức của quần chúng về sự trầm trọng và lan tràn của vấn đề này: “Còn cần phải làm nhiều hơn trên mức độ đề cao ý thức công chúng và thực hiện những nỗ lực hợp tác tốt đẹp hơn giữa các chính phủ, các nhà lập pháp, các giới chức công quyền và các cán sự xã hội.”

Đức Thánh Cha tiếp: “Như các bạn đã biết, một trong những thách đố của công trình hỗ trợ, giáo dục và hợp tác là có sự thờ ơ nào đó và ngay cả có sự đồng phạm, một khuynh hướng của nhiều người là quay mặt đi, và còn có những tổ chức có quyền lực và các hệ thống tội phạm muốn tham gia để mưu đồ trục lợi.”

Vì lý do này, tôi rất cảm kích về các nỗ lực của các bạn trong việc nâng cao ý thức của quần chúng về thảm trạng này. Thảm trạng này đặc biệt ảnh hưởng đến phụ nữ và trẻ em. Nhưng tôi cũng muốn cám ơn các bạn một cách đặc biệt về nhân chứng của các bạn về Phúc Âm của lòng thương xót, Như đã được bầy tỏ trong sự cam kết của các bạn về sự phục hồi và gây dựng lại phẩm giá cho các nạn nhân”.

“Các họat động của các bạn trong lãnh vực này nhắc nhớ chúng ta về “những nỗ lực to lớn và thường khi rất âm thầm đã được rất nhiều dòng tu, nhất là các dòng nữ thực hiện trong nhiều năm’, để chăm sóc những người đã bị tổn thương về phẩm giá và đã mang những vết sẹo vì kinh nghiệm đau thương họ trải qua.”

Đức Thánh Cha cũng nhắc đến những phụ nữ đã đồng hành với các phụ nữ khác và trẻ em trong hành trình chữa lành và tái nhập xã hội của họ..

Ngài nói: “Các bạn thân mến, tôi tin rằng việc chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và khả năng của các bạn trong những ngày này sẽ đóng góp cho một chứng tá Phúc Âm hiệu lực hơn, tại nơi là một trong những lãnh vực cao quý nhất của xã hội đương thời. Tôi dâng các bạn và tất cả những người các bạn đang phuc vụ cho sự cầu bầu yêu thương của Mẹ Maria, Mẹ của Lòng Thương Xót. Tôi cũng chúc lành cho các bạn như một cam kết về niềm vui và bình an trong Chúa Kitô.”

Hướng dẫn của các Giám Mục Virginia về việc bầu cử

Bổn Phận Công Dân của người Công Giáo và là con cái của Thiên Chúa

Thông tư cùa Đức Giám Mục Francis DiLorenzo và Paul Loverde, Tháng 10, 2016

Chỉ cón vài ngày nữa trước ngày bầu cử 8 tháng 11, chúng ta cần nhớ lời Đức Thánh Cha Phanxicô nới với các chính trị gia và tín hữu, vài tuần trước cuộc bầu cử năm 2015.

Nhắm vào lời Chúa trong Phúc Âm, Đức Thánh Cha khuyên nhủ “toàn  thể dân chúng Hoa Kỳ” – các giới chức và cử tri như nhau – là phải theo “hướng dẫn rõ ràng” của Luật Vàng (MT 7:12), hướng dẫn chúng ta “đối xử với tha nhân bằng cùng lòng ưu ái và thương cảm như chúng ta muốn được đối xử như vậy.” Ngài cũng nói, “Các bạn được mời gọi để bảo vệ và duy trì phẩm giá của các đồng bào trong việc theo đuổi không mỏi mệt và đòi hỏi của lợi ích chung, vì đây là mục tiêu chính yếu của mọi chính trị.”


Điều này có nghĩa là vào ngày bầu cử và trong suốt năm – dủ cho những tranh luận chính trị xung quanh chúng ta không được lịch sự - bổn phận công dân của chúng ta là phải tham gia vào thể thức chính trị.
 

Như các giám mục Hoa Kỳ bạn  đã nhấn mạnh, “Bổn phận [họat động cho một xã hội công chính và có trật tự] thiết yếu hơn bao giờ hết trong môi trường chính trị hiện đại, nơi người Công Giáo có thể cảm thấy chán nản về chính trị,cho rằng không có đảng phái nào và quá ít ứng viên hoàn toàn chia sẻ sự cam kết rõ ràng của Giáo Hội đối với đời sống và phẩm giá của tất cả mọi con người từ lúc thụ thai cho đến cái chết tự nhiên. Tuy nhiên, đây không phải là lúc chúng ta rút lui hay nản chí, mà là lúc phải tái thiết việc tham gia.” (Tạo Dựng Lương Tâm cho Công Dân Trung Thánh, Số 16. Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 2015)

Nền tảng của “sự tái thiết tham gia” này là một lương tâm đã được tu chỉnh kỹ càng – một lương tâm đã được tu luyện bằng kinh nguyện, các Bí Tích, học hỏi và nhận định các vấn đề chính yếu và đức tính của các ứng viên, và cuối cùng bằng những nguyên tắc hướng dẫn của đức tin chúng ta.

Bốn nguyên tắc của giáo huấn Công Giáo về xã hội hướng dẫn chúng ta: Duy trì phẩm giá cố hữu của mọi con người, cố gắng cải thiện lợi ích chung, và kết hợp các nguyên tắc về hỗ trợ và liên đới. Muốn biết thêm về các nguyên tắc này xin vào trang: www.vacatholic.org  và  www.faithfulcitizenship.org .

Giáo huấn của Giáo Hội dậy chúng ta là phẩm giá của một con người là cốt lõi của giáo huấn Công Giáo về luân lý và xã hội, và là nền tảng của một viễn ảnh về luân lý cho xã hội. Phẩm giá này mời gọi chúng ta chống lại mọi họat động đóng góp cho điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là “một nên văn hóa vứt đi”. Như các giám mục Hoa Kỳ đã ghi nhận: “Bất cứ chính trị nào về phẩm gía con người cũng phải đề cập đến các vấn đề nghiêm trọng về kỳ thị chủng tộc, nạn nghèo khó, đói khát, thất nghiệp, giáo dục, nhà cửa, và y tế.

 . . . Nếu ta hiểu rằng con người là “đền thờ của Thánh Thần” – ngôi nhà sống động của Thiên Chúa – thì các vấn đề này sẽ nằm đúng chỗ của các cột kèo chính của ngôi nhà này. “Mọi sự tấn công đối với đời sống con người, như  là phá thai, an lạc tử là phá hủy nền móng của ngôi nhà này.” (Sống Phúc Âm của Sự Sống, Số. 22, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 1998)

Trong khi chúng ta cân nhắc các vần đề, cần công nhận rằng tất cả các vấn đề đều có một tầm quan trọng về luân lý như nhau. Bổn phận luân lý của chúng ta là chống lại các chính sách cổ võ cho các hành động độc ác phải có tầm quan trọng trước hết về lương tâm và hành động của chúng ta. Các hành động độc ác là những gì chúng ta không bao giờ được làm vì không phù hợp với tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Kể cả việc phá thai (xẩy ra trên một triệu lần hàng năm tại Hoa Kỳ), trợ tử, tạo sinh vô tính, các nghiên cứu phá hủy các phôi thai, sát nhân, tra tấn, kỳ thị chủng tộc, tấn công những người thường dân vô tội trong các cuộc chiến tranh khủng bố, và tái định nghĩa hôn nhân.

Trong khi chúng ta suy nghĩ về các hành động độc ác cố hữu, chúng ta đặc biệt ghi nhận hai lãnh vực dễ hiểu nhầm đã xuất hiện trong mùa bầu cử này.

Lãnh vực đầu tiên là một người có thể “chính thức” chống đối việc phá thai, nhưng lại yểm trợ cho các đạo luật cho phép việc này. Đây là một sự hiểu nhầm căn bản cả về luật thiên nhiên lẫn giáo huấn của Giáo Hội. Lợi ích chung và bác ái Công Giáo buộc chúng ta phải họat động đề lật đổ - thay vì hỗ trợ hay đồng ý cho – các đạo luật bất công. Nguyên tắc căn bản của sự bình đẳng khẳng định rằng tất cả mọi con người đều có quyền sống. Phá thai tước đọat quyền này đối với tất cả một hạng người, vì vậy cho phép có sự bát công và đối nghịch với quan niệm nền tảng của sự bình đẳng. Thực vậy, “Đây là một lỗi lầm có hậu quả quan trọng khi coi việc hủy diệt các sự sống con người vô tội như chỉ là một vấn đề lựa chọn cá nhân. Một hệ thống luật pháp vi phạm quyền sống căn bản dựa trên sự lựa chọn cá nhân hoàn toàn sai lạc.” (FC, No. 22)

Lãnh vực thứ hai là cơ cấu của hôn nhân. Đáp lại luân điệu rằng cơ cấu này có the được tái định nghĩa, hay là Giáo Hội có ngày có thể thay đổi giáo huấn về hôn nhân, chúng tôi khẳng định rằng hôn nhân chỉ có thể là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Đây không chỉ là học thuyết của bất cứ tôn giáo nào, mà là sự thấu hiểu bản chất căn bản của nhân lọai chúng ta.

Sự làm sáng tỏ này cần thiết khi chúng ta xem xét việc bỏ phiếu và làm thế nào để cỏ võ cho ích lợi chung. Lựa chọn để bỏ phiếu cách nào thường khi rất khó khăn. Như đã ghi nhận, các vấn đề đều quan trọng, nhưng không hẳn là tất cả đều quan trọng như nhau; và bổn phận tiên quyết của chúng ta là phải bảo vệ cho quyền sống trên đó tất cả các quyền khác phải dựa vào. Đức tin bảo chúng ta phải nhận định cẩn thận sự cam kết, đức tính, sự công chính, và khả năng tạo ảnh hưởng trên một vấn đề quan trọng của mỗi ứng viên.

Gia trang của Hội Đồng Giám Mục Virginia www.vacatholic.org  cung cấp các tài liệu trợ giúp các cử tri trong khi họ chuẩn bị đi bầu, kể cả một so sánh giữa hai ứng viên của hai đảng phài chính về lập trường của họ về mỗi vấn đề; một danh sách của các ứng viên của một đảng thứ ba; một hướng dẫn bầu cử các dân biểu; và Bốn Nguyên Tắc của Giáo Huấn Công Giáo về Xã Hội.

Ngay cả trong các cuộc bầu cử khó khăn, người Công Giáo được mời gọi để làm sáng tỏ và đem sự xử thế lịch sự vào môi trường công cộng/ Chúng tôi kết hiệp trong cầu nguyện và suy niệm, để với sự khôn ngoan và thông hiểu chúng ta có thể lựa chọn các vị lãnh đạo với một lương tâm đã được tạo dựng đúng đắn.

Đức Giám Mục s Francis DiLorenzo và Paul Loverde,
Quản giáo Giáo Phận Arlington và Giám mục Richmond

Sự Hiệp Nhất của các Kitô hữu phải là ưu tiên chính yếu

Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên bố tại Thụy Điển

Ngày 31 tháng 10, 2016

Hôm nay Đức Thánh Cha tuyên bố tại Thụy Điển, trong một chuyến tông du 24 giờ về mục đích đại kết, nhân dịp kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Cách Tin Lành: “Sự hiệp nhất của các Kitô hữu phải là vấn đề ưu tiên, vì chúng ta ý thức rằng có rất nhiều điều liên kết chúng ta hơn là chia rẽ chúng ta.”

Ghi nhận quá trình đối thọai trong 50 năm qua giữa Công Giáo và Tin Lành, Đức Thánh Cha nói rằng hành trình tiến tới việc hiệp nhất “chính là món quà tặng lớn lao Thiên Chúa ban cho chúng ta.”

Đức Thánh Cha ghi nhận: Một trong những hoa trái của cuộc đối thọai này là việc hợp tác trong các công trình bác ái của lòng thương xót. Diễn từ của Đức Thánh Cha tiếp theo bốn chứng từ của những người nói về các nhu cầu của thế giới. Một Đức Giám Mục từ Aleppo cũng trình bầy cảm nghĩ của ngài.

Đức Thánh Cha nói: “Các chứng nhân hùng hồn này làm cho chúng ta phải suy nghĩ về chính cuộc sống của chúng ta và bằng cách nào chúng ta có thể đáp ứng các hoàn cảnh thiếu thốn và đau khổ chung quanh chúng ta.”

Ngài nói: “Đối với chúng ta là các Kitô hữu, vấn đề ưu tiên là phải tiếp cận những người bị hất hủi và bỏ rơi trong thế giới chúng ta, và làm cho họ cảm nhận được tình yêu dịu hiền và đầy thương xót của Thiên Chúa, là Đấng không chối bỏ một ai, nhưng đón nhận tất cả mọi người.”

Chú trọng tới tình hình ở Syria, Đức Thánh Cha Phanxicô ghi nhận rằng hàng ngày nhiều tin tức cho thấy “những đau khổ vô tả đang bị cuộc chiến tại Syria gây ra, tới nay đã kéo dài trên năm năm.”

Ngài nói rằng tất cả mọi người dân Syria đều “cần được chúng ta yêu thương và cầu nguyện cho họ.”

Ngài nói: “Chúng ta hãy cầu khẩn Thiên Chúa ban cho những người chịu trách nhiệm về định mệnh của miền đất này có được ân sủng của sự hoán cải sâu xa.”

Cuối cùng, Đức Thánh Cha khuyên nhủ: “Anh chị em thân mến, chúng ta đứng nản chí trước những khó khăn. Ước gì những cầu chuyện chúng ta được nghe hôm nay sẽ thúc đẩy chúng ta và giúp chúng ta có thêm nghị lực để cùng hợp tác với nhau chặt chẽ hơn. Khi chúng ta trở về nhà, chúng ta hãy cam kết sẽ làm hàng ngày những hành động và cử chỉ hầu đem lại hoà bình và hoà giải, để trở nên những chứng nhân can đảm và trung thành của niềm hy vọng Kitô giáo.”

Đức Thánh Cha nói về sự cô đơn của các linh mục vào cuối cuộc đời

Thánh Lễ sáng tại nhà nguyện Thánh Mác Ta

Vatican, Ngày 18, tháng 10, 2016.

Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên dương các linh mục cao niên đã phục vụ Thiên Chúa trung thành, trong Thánh Lễ sáng tại nhà nguyện Thánh Mác Ta. Ngài đã nhắc tới sự cô đơn của các linh mục này vào cuối cuộc đời: “Khi vị tông đồ trung thành, thì sẽ không chờ đợi một kết cuộc khác với Chúa Giêsu” mà sẽ sống không có sự ân hận chua cay, với “sự đoan chắc là Chúa Giêsu đang ở bên họ.”

Đức Thánh Cha đã bình luận về bài đọc 1 (2 Tm 4, 10-17b) trong đó “Thánh Phaolô” đã chịu đừng biết bao thử thách và cuối cùng, hoàn toàn cô độc, và là nạn nhân của những sự đàn áp, bị bỏ rơi trong chán chường, nhưng đã không có tâm tình ân hận chua cay mà chỉ có sự đau khổ nội tâm. Cũng thế “Thánh Gioan Baotixita” đã bị chặt đầu vì một phụ nữ ngọai tình muốn trả thù. Đức Thánh Cha cũng nhắc đến Thánh Maximilien Kolbe, “đấng đã phát động một phong trào tông đồ trên toàn thế giới và làm được nhiều việc vĩ đại” đã bị chết trong một khám đường của bọn phát xít Đức.

Đức Thánh Cha  nói: “Khi vị tông đồ trung thành, thì sẽ không chờ đợi một kết cuộc khác với Chúa Giêsu. Đó là lề luật của Phúc Âm: nếu hạt thóc không chết đi thì sẽ không sinh hoa trái.” Cũng vậy “chết như các vị tử đạo, để làm chứng cho  Chúa Giêsu, chính là hạt giống chết đi để sinh hoa trái và làm cho trái đất có nhiều tín hữu mới.”

Đức Thánh Cha tiếp: Nhưng “một chủ chiên phải đoan chắc là mình đang đi trên lộ trình của Chúa Giêsu, Người sẽ ở gần bên mình cho đến cuối cuộc đời”. Thực vậy, Thiên Chúa không bỏ rơi mình. Khi một chủ chiên biết được như thế thì sẽ không chua cay: có thể là sống trong buồn rầu, nhưng vẫn đoan chắc là Chúa đang ở nên mình.”

“Ngược lại, một chủ chiên trong đời sống không lo cho đoàn chiên mà chỉ lo lắng đến những gì khác – như quyền lực, tiền bạc, thì sẽ không biết đến nỗi cô đơn của người công chính vào cuối cuộc đời. Có thể là vị này sẽ có những người thừa kế, chờ đợi để xem vị ấy có thể mang theo những gì khi qua đời.”

Là người cha cho đến cùng

Đức Thánh Cha Phanxicô tuyên dương các linh mục cao niên đã trung thành phục vụ Giáo Hội suốt đời : “Khi tôi đến viếng thăm một nhà hưu dưỡng của các linh mục cao niên, tôi thấy nhiều vị can đảm đã dâng hiến cuộc đời cho giáo dân. Ở đó, họ là các bệnh nhân, tê liệt, ngồi xe lăn, nhưng ta có thể thấy họ luôn mỉm cười. Vì họ cảm nhận được rằng Chúa Kitô đang ở bên họ. Và đôi mắt họ rực sáng khi họ hỏi tôi: ‘Giáo Hội lúc này ra sao? Giáo phận ra sao? Ơn kêu gọi ra sao?’ Cho đến cùng, vì họ là những người cha, vì họ đã dâng hiến tất cả cuộc đời cho tha nhân.”

Đức Thánh Cha đã kết thúc bằng việc mời gọi mọi người hãy cầu nguyện cho các linh mục đang ở vào cuối cuộc đời: “Chúng ta hãy cầu nguyện cho những chủ chiên đang ở vào cuối cuộc đời và đang chở đợi Chúa Kitô ban cho họ sức mạnh, sự an ủi, và sự cam đoan rằng mặc dầu họ bệnh tật và lẻ loi, Chúa vẫn ở với họ, kế bên.”

Khi nguy khó hãy khẩn cầu xin Chúa giúp đỡ,

Đức Thánh Cha nói trong một bài giảng buổi sáng: “ Xin đừng phản ứng với những đau khổ mất mát bằng ma túy, rượu chè, hay trốn tránh.”

Hãy tìm hiểu những gì đang xẩy ra trong tâm hồn và cầu xin Chúa giúp đỡ. Ngài nói như thế trong Thánh Lễ buổi sáng tại nhà nguyện Thánh Mác Ta.

Suy niệm về bài đọc trong ngày, Đức Thánh Cha bình luận về sự tuyệt vọng tinh thần, những gì ông Gióp đã cảm nghiệm và Đáp Ca: “Xin cho lời con nguyện cầu được dâng lên tới Chúa.”

“Ông Gióp đã mất hết tất cả và cảm thấy mình hoàn toàn bị bỏ rơi, và đã bị hành hạ cách bất công. Ông đã tuyệt vọng lớn tiếng van nài với Chúa, ông đã bầy tỏ hết những cảm nghĩ tuyệt vọng và nuối tiếc, tuy nhiên ông không hề nói những lời phạm thượng, hay than trách Chúa.”

Đức Thánh Cha nói: “Tất cả chúng ta đều có những cảm nghiệm tới một mức độ nào đó về sự tuyệt vọng khiến cho chúng ta ‘cảm thấy như tâm hồn chúng ta bị đè nát’, như bị nghẹt thở, và có lẽ chỉ muốn chết cho rồi.”

Ngài nói: “Chúng ta phải hiểu rằng khi tâm hồn chúng ta ở trong tình trạng đau buồn triền miên và nghẹt thở này, cần nhớ là tất cả chúng ta phần nào cũng đều đã cảm thấy như vậy.”
”Một số người có thể uống thuốc ngủ để tránh tình trạng này hay uống vài ly rượu mạnh, nhưng những thứ này không giúp gì được đâu.”

Ngài nói: “Vậy thì người ta phải làm gì khi phải trải qua những giờ phút đen tối vì có thảm kịch xẩy ra trong gia đình, vì bệnh hoạn, vì có biến cố nhận chìm chúng ta xuống vực sâu.”
“Khi tuyệt vọng, chán chường, giải pháp cần áp dụng là phải cầu nguyện hết sức, như ông Gióp đã than khóc ngày đêm để Thiên Chúa phải nghe lời ông kêu cứu.”

Ngài nói Thánh Vịnh 88 và Đáp ca “Xin cho lời con nguyện cầu được dâng lên tới Chúa.” – là kinh nguyện để gõ cửa nhà Chúa, và gõ mạnh. “Lạy Chúa, linh hồn con tràn đầy những khắc khoải và đời sống con gần kề vực thẳm. Con đã thuộc vào số người sắp rơi vào hố sâu. Con là người đã kiệt sức.”

Ngài nói: “Đây là cách cầu nguyện hết sức chân thành, và đơn sơ, vì đây là cách một trẻ thơ bầy tỏ những cảm nghĩ với người cha. Và đây là cách chúng ta phải cầu nguyện trong những lúc khủng khiếp nhất, đen tối nhất, tuyệt vọng nhất.” 

Khi có người khác chịu đau khổ và bị giam hãm trong sự tuyệt vọng về tâm hồn, điều tốt nhất là “nói càng ít càng tốt”, vì trong các trường hợp này, lời nói “cuối cùng không giúp gì được mà còn có thể gây nguy hại thêm.”

Có thể giúp cho nhau bằng sự thinh lặng yêu thương, “gần gũi, vuốt ve và cầu nguyện với Chúa Cha.”

Đức Thánh Cha yêu cầu mọi người hãy cầu nguyện để có ơn nhận biết và suy niệm về các lý do của sự tuyệt vọng của mình, có ơn để cầu nguyện sốt sắng với Chúa khi gặp khó khăn, và ơn nhận biết cách thức đồng hành với những ai đang đau khổ, buồn phiền và tuyệt vọng.

Bùi Hữu Thư

Những dị biệt không thể là nguyên nhân gây nên bạo tàn

Những dị bệt không thể là nguyên nhân gây nên bạo tàn

Đức Thánh cha tuyên bố tại Georgia khi ngài khởi sự chuyến đi ba ngày trong diễn từ gửi các lãnh tụ của các cơ quan xã hội và văn hóa

Ngày 30 tháng 9, 2016: Zenit.org

Đức Thánh Cha Phanxicô đã tới Tbilisi, thủ đô nước Georgia, lúc 3 giờ chiều giờ điạ phương. Đây là điạ điểm đầu tiên của chuyến tông du sang vùng Caucase với chủ đề “Pax Vobis”, lời kêu gọi cho hoà bình trong miền.

Tại phi trường, sau chuyến bay dài 4 tiếng, Đức Thánh Cha được tổng thống nước Công Hoà Georgia là ông Giorgi Margvelashvili và phu nhân đón tiếp, và tháp tùng có Thượng Phụ Công Giáo Georgia, là ngài Beatitude Ilia II. Hai trẻ em mặc quốc phục kính dâng ngài một giỏ trái nho trước sự hiện diện của các giới chức của chính phủ và các đại diện của những tổ chức và cơ quan xã hội dân sự.

Thủ đô nước Georgia có dân số Công Giáo đông nhất, và với khu vực phía nam là nơi có nhiều làng mạc toàn người Công Giáo. Người Công Giáo trong nước có đa số theo giáo hội La Tinh và Armenia, ngoài ra còn có một cộng đồng nhỏ theo nghi thức Assyria Chalde cũng như có một nhóm di dân mà đa số là người Hoa Kỳ, Âu Châu và Ấn Độ. Tại thủ đô Tbilisi có hai nhà thờ Công Giáo theo nghi thức La tinh: Nhà thờ Chánh Toà Assumption nằm tại trung tâm lịch sử và nhà thờ Thánh Phêrô và Phaolô, nơi có một xứ Truyền Giáo theo Phong Trào Tân Dự Tòng Neocatechumenal gồm có các linh mục, các nhà truyền giáo và giáo dân đã có mặt ngay từ năm 1991

Tại Georgia có đa số là những người Kitô giáo theo đạo Chính Thống 83.9%, nhưng cũng có một thiểu số người Hồi Giáo, 9.9%.

Sau một cuộc đàm thoại ngắn với tổng thống Margvelashvili, và phu nhân và thượng phụ trong một căn phòng nhỏ tại phi trưòng, Đức Thánh Cha được đưa đến dinh tổng thống bằng xe hơi nơi ngài đọc diễn văn đầu tiên tại Georgia trước sự hiện diện của các lãnh tụ chính trị và tôn giáo, các thành viên của Ngọai Giao Đoàn, và đại diện của các nền văn hóa quốc tế.

“Tôi tạ ơn Thiên Chúa đã cho tôi cơ hội để viếng thăm miền đất được chúc phúc này. Đây là nơi có sự trao đổi chính yếu giữa các nền văn hóa và văn minh, ngay từ thời rao giảng của Thánh Nino vào đầu thế kỷ thứ Tư, đã khám phá ra Kitô giáo với căn tính sâu xa nhất và nền tảng vững chắc của các giá trị Kitô. Như Thánh Gioan Phaolô II đã nhận xét khi ngài viếng thăm quốc gia của quý vị: ‘Kitô giáo trở thành hạt giống cho những sự triển nở kế tiếp của nền văn hóa Georgia’, và hạt giống này tiếp tục nẩy sinh hoa trái. Nhắc lại cuộc viếng thăm của quý vị tại Toà Thánh năm ngoái và mối tương quan tốt đẹp với Geogia, tôi chân thành cảm ơn Tổng Thống đã ưu ái mời tôi và đã có những lời đón tiếp nồng hậu thay mặt cho các giới chức chính phủ và nhân dân Georgia”.

“Lịch sử lâu dài nhiều thế kỷ của quốc gia qúy vị cho thấy đã bắt ngưồn từ các giá trị được thể hiện trong nền văn hóa, ngôn ngữ và truyền thống. Điều này nâng cao quốc gia quý vị như nền tảng vững chắc của nền văn minh Âu Châu một cách toàn vẹn và đặc biệt; đồng thời cũng là điều hiển nhiên vì vị thế địa dư của quý vị. Georgia hầu như là chiếc cầu thiên nhiên nối liền Âu Châu và Á Châu, và là phương tiện nối kết việc truyền thông và bang giao giữa các dân nước. Qua nhiều thế kỷ đã hỗ trợ cho việc ngọai thương, đối thọai và trao đổi các tư tưởng và kinh nghiệm giữa các nền văn hóa khác nhau. Như quốc ca của quý vị đã tuyên xưng một cách hào hùng: ‘Phù tiêu của tôi là quê hương tôi,,. Núi non thung lũng được chia sẻ với Thiên Chúa’”.

“Nguyện xin Thiên Chúa chúc lành cho Georgia và ban cho quốc gia này hoà bình và thịnh vượng!”

Vô gia cư về phương diện chính trị, nhưng không thất nghiệp

Đại Hội về Hoà Bình và Công Lý chú tâm đến việc sử dụng quyền công dân

Arlington Catholic Herald 9/21/16

Đại Hội về Hoà Bình và Công Lý của Giáo Phận Arlington có tên “Công Giáo và Chính Trị: Tín Hữu và Các Công Dân Tích Cực” (Catholics and Politics: Faithful and Engaged Citizens,) được tổ chức ngày 17 tháng 9, 2016 tại Giáo Xứ Chúa Chiên Lành (Good Shepherd Church) tại Alexandria. 130 tham dự viên được khuyến khích tham dự tích cực về chính trị trong chu kỳ bầu cử này – cả ở lãnh vực địa phương lẫn toàn quốc – bằng cách đi bầu và phụ giúp trong cộng đồng của họ.

Đức Giám Mục Arlington Paul S. Loverde khai mạc chương trình buổi sáng trước diễn giả chính bằng một lời kêu gọi cầu nguyện, thống hối và tích cực tham gia trong những giờ phút khó khăn này. Tiếng nói của Giáo Hội phải to lớn hơn thay vì nhỏ yếu hơn.”

Diễn giả chính trong Đại Hội này là ông Jonathan Reyes, Giám Đốc Điều Hành của Ngành Công Lý, Hoà Bình và Phát Triển Nhân Sự tại Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (the executive director of the Justice, Peace and Human Development Department at the United States Conference of Catholic Bishops). Ông nói: “Chu kỳ bầu cử năm nay không giống bất cứ chu kỳ nào khác ông đã chứng kiến.” Tiếp chuyện với người Công Giáo tại nhiều nơi trên toàn quốc ông ghi nhận có một sự lo lắng về tình trạng chính trị và sự thất vọng của mọi người đối với ứng viên tổng thống của cả hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ. Người ta cảm thấy chán ghét đảng phái họ đã hỗ trợ nhiều năm qua.

Ông nói: “Người ta cảm thấy họ bị rơi vào trạng thái vô gia cư về chính trị, nhưng chúng ta không thất nghiệp. Chúng ta có thể không có chổ đứng về chính trị, nhưng điều này không thể hạn chế bổn phận của chúng ta là những tín hữu công dân.”

Linh mục Gerry Creedon, chánh xứ Thánh Gia (Holy Family) tại Dale City là chủ tịch của Ủy Ban Tổ Chức. Ngài nói: “Chúng ta cần minh định ứng viên nào sẽ yểm trợ cho đời sống và nhân phẩm con người tốt hơn. Nhưng có lẽ câu hỏi quan trọng hơn là cá nhân tôi phải làm, gì để yểm trợ cho đời sống và nhân phẩm con người?”

Ông Reyes cho rằng vấn đề rắc rối sâu xa hơn là về chính trị. Bên trong cả hai đảng phái và trong xã hội bên ngoài, có một sự coi thường nhân phẩm đã làm cho các tín hữu Công Giáo bất mãn. Ông nói: “Phải, chúng ta có thể thỏai mái để nói về nhân phẩm của phe tả hay hữu, tùy theo hoàn cảnh, nhưng đối với chúng ta là người Công Giáo, không có sự miễn trừ.”

Ông nói: “Khi phải đối phó vời tình trạng vô gia cư về chính trị này, luôn có sự cám dỗ là nhắm mắt bỏ qua. Nhưng tiếng nói của Giáo Hội bây giờ lại cần thiết hơn bao giờ hết. Bỏ qua không phải là một điều chúng ta được phép lựa chọn. Chúng ta phải đi bầu. Chúng ta phải cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Chúng ta hãy thưa: ‘Lạy Chúa, cảm tạ Chúa vì con đang được sống bây giờ, xin cho con biết con phải làm gì.’”

Ông Reyes cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự liên đới — sự tạo dựng những tình bạn chân chính, nhất là đối với những người bị cô lập hóa và sống bên lề xã hội. “Sau cuộc bầu cử này, sự phân hóa trong quốc gia chúng ta sẽ không biến đi. Giáo Hội có thể là nguồn trợ lực cho sự hiệp nhất không?”

Hai thuyết trình viên khác, Joan Rosenhauer thuộc Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo (Catholic Relief Services) và Anthony Granado thuộc văn phòng Giao Dịch Chính Phủ tại Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (Government Relations at the USCCB), cũng đồng ý với lời của ông Reyes là phải tích cực tham gia. Bà Rosenhauer nói: “Khi chúng ta không hành động trong đời sống công cộng và đem các giá trị của chúng ta làm ảnh hưởng đến các quyết định của chính phủ, tôi tin rằng đó là phạm tội của sự nhắm mắt bước qua.”

Ông Granado khuyến khích tham gia tại lãnh vực địa phương: “Người Công Giáo cần phải năng động về chính trị, vì các quyết định chính trị chính là các quyết định về luân lý.” Chương trình của Đại Hội nêu ra nhiều tổ chức để các công dân năng động lưu ý, kể cả Hội Đồng Giám Mục Virginia, là cánh tay họat động của các Giám Mục Virginia, của Bác Ái Công Giáo và Mục Vụ Đức Tin Công Chính (JustFaith Ministries).  Các nhóm họat động cho các vấn đề gồm có Catholic Climate Covenant, Catholic Legal Immigration Network và CatholicVote.org.

Thánh Têresa Calcutta kêu gọi việc tạo dựng một nền văn hóa ưu tiên cho những người yếu đuối nhất

Thánh Têresa Calcutta coi việc phá thai là tệ trạng nghèo khổ lớn lao nhất và là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội khác kể cả việc bạo tàn.

Báo KoC Columbia tháng 9, 2016: Mẹ Têresa biết rõ nạn nghèo khó. Sau khi đã hy sinh cả cuộc đời sống trên các hè phố ở Calcutta, Ấn Độ - và các nơi khác trên thế giới – mẹ đã chăm sóc cho những người mà ai ai cũng phải cho là những người nghèo khó nhất trên thế giới.

Người nghèo là mối đam mê và là công trình trọn đời của mẹ. Không có ai gần gũi và thông cảm những người nghèo khó nhiều bằng mẹ. Khi mẹ thuyết trình trong lễ mãn khóa các sinh viên Harvard năm 1982, mẹ đã nói về sự nghèo khó mà đa số sinh viên không thể hình dung ra được.

Mẹ đã nói ngày hôm đó về sự nghèo khó, nhưng không phải là sự nghèo khó ở một nơi nào xa xôi.

Mẹ Têresa giải thích rằng, sự nghèo khó cùng cực không phải ở các khu nghèo nàn tại Ấn Độ, mà ở ngay các khu vực lân cận chúng ta tại Hoa kỳ. Mẹ coi việc phá thai là “một sự nghèo khổ lớn lao nhất. Một quốc gia, một dân tộc, một gia đình cho phép và chấp nhận việc phá thai là những người nghèo khó nhất giữa những người nghèo khó.”

Năm 1981, khi mẹ viếng thăm Hoa Thịnh Đốn, mẹ đã tiếp chuyện với Ông Carl Anderson, Đại Hiệp Tối Cao của Đoàn Hiệp Sĩ Kha Luân Bố. Mẹ đã hết sức cảm động khi nói về sinh họat của mẹ tại Calcutta và nhất là về việc giúp đỡ những thai nhi chưa sinh ra. Mẹ đã kể về những trường hợp hết sức tệ hại, khi một sơ trong dòng đã tìm thấy tám thai nhi sống sót sau vụ phá thai nằm trong một cái chậu bên ngoài một bệnh xá. Mẹ nói mẹ đã có thể cứu sống sáu em và tìm được các gia đình nhận chúng làm con nuôi.

Mẹ tiếp: “Thiên Chúa đã ban cho quốc gia các bạn quá nhiều. Xin đừng sợ hãi có con. Xin đừng quay lưng lại với những thai nhi chưa sinh ra. Sinh hãy bênh vực các trẻ vô tội này. Tôi cầu nguyện cho các bạn và cho toàn thể quốc gia của các bạn có thể thực hiện sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta và cho toàn thế giới.”

Ngôn ngữ này cho thấy một chủ đề kiên trì của mẹ. Năm 1979, khi mẹ lãnh giải thưởng Nobel về Hoà Bình, mẹ Têresa nói: “Đối với tôi, các quốc gia đã hợp pháp hóa việc phá thai là những quốc gia nghèo khó nhất. Họ sợ hãi những đứa trẻ chưa sinh, và chúng phải chết vì họ không muốn phải nuôi dưỡng và dậy dỗ thêm một đứa trẻ nữa.”

Sự lo lắng cho các đời sống chưa sanh là ưu tư quan trọng nhất của mẹ giữa những lo lắng cho những người nghèo khó và sống ngoài lề xã hội.

Năm 1994, trong bữa ăn sáng của Ngày Cầu Nguyện Toàn Quốc, có sự tham dự của các lãnh tụ quốc hội lưỡng đảng và Tổng Thống và bà Clinton, Mẹ Têresa đã trực tiếp kêu cầu dân tộc Hoa Kỳ: “Tôi nghĩ rằng sự tàn phá nền hoà bình khủng khiếp nhất hiện nay phải là việc phá thai, vì đây là cuộc chiến chống lại các trẻ em, một sự trực tiếp tiêu diệt các trẻ thơ vô tội, một sự sát nhân do người mẹ chủ mưu. Và nếu chúng ta chấp nhận cho người mẹ có thể giết chết chính đứa con của mình, thì làm sao chúng ta có thể bảo người ta không được chém giết lẫn nhau?”

Mẹ tiếp: “Bất cứ quốc gia nào chấp nhận việc phá thai thì không giảng dậy cho dân tộc mình biết yêu thương, và đã khuyến khích họ dùng bạo lực để chiếm đọat những gì họ mong muốn.” 

Ông Carl Anderson viết: “Chúng ta cần nghe theo lời khuyên nhủ của Mẹ Têresa khi mẹ lãnh giải thưởng Nobel năm 1979. Chúng ta hãy lấy một quyết định vững chắc: Chúng ta sẽ cứu sống mọi thai nhi, mọi hài nhi chưa sinh, và cho chúng có cơ hội được sanh ra đời, có cơ hội để biết yêu và được yêu thương, và tôi nghĩ rằng nhờ ơn Chúa chúngta sẽ có thể đem lại hoà bình cho thế giới.”

Tông Huấn ‘Amoris Laetitia’ là Cẩm nang hướng dẫn cho hôn nhân.

Tuần Báo Arlington Catholic Herald, 7-14, tháng 9, 2016

‘Amoris Laetitia’, Tông Huấn năm 2016 của Đức Thánh Cha Phanxicô về hôn nhân và đời sống gia đình, không chỉ là một khí cụ lợi ích cho các chương trình của giáo xứ, nhưng còn cung cấp những huấn dụ thực tiễn cho các cặp đính hôn.

Đức Thánh Cha viết như sau trong suy niệm của ngài về Thượng Hội Đồng Giám Mục tháng 10, năm 2015: “Việc học biết cách yêu thương một người nào đó không tự động xẩy ra, và cũng không thể được giảng dậy trong một khóa huấn luyện ngay trước phép hôn phối.”

Ngài cũng viết rằng mục tiêu chính yếu của chương trình chuẩn bị hôn nhân của các giáo xứ phải là giúp đỡ cho các cặp đã đính hôn “học cách thật sự yêu thương người mà chàng hay nàng dự tính sẽ chia xẻ suốt cuộc đời với mình.”

Ngài đề nghị rằng các cặp đính hôn phải học hỏi trước hết nơi cha mẹ họ, và sau đó là nơi các chương trình của giáo xứ. Đức Thánh Cha cũng khuyên họ nên tận dụng Bí Tích Hoà Giải để tìm được sự thương xót và “sức mạnh hàn gắn chữa lành,” và cũng phải suy niệm về các bài đọc đã được lựa chọn cho Thánh Lễ Hôn Phối của họ, nhất là ý nghĩa của việc họ trao nhau nhẫn cưới.

Trên phương diện thưc tiễn, ngài lưu ý về cảm nghiệm “bị kiệt sức hay căng thẳng” của nhiều lứa đôi vào ngày cưới, và đề nghị nên tránh tình trạng này bằng các nghi thức giản dị hơn.

Ngài nói giống như người cha một cô dâu: “Hãy có can đảm để làm những gì khác người. Đừng để cho mình bị lối cuốn bởi một xã hội tiêu thụ và những bề ngoài trống rỗng. Điều quan trọng là tình yêu chia xẻ cho nhau, phải được tăng sức và thánh hóa bởi ân sủng.” 

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng viết trong “Amoris Laetitia” là có nhiều lý do để các cặp trẻ tuổi không làm đám cưới – lý do tài chánh và sợ hãi hôn nhân sẽ giới hạn sự tự do của họ.

Để chống lại các tư tưởng này, ngài nói các cặp trẻ tuổi cần được giúp đỡ để khám phá ra hấp dẫn của một sự kết hợp hoàn toàn khi nâng cao được chiều kích xã hội của đời sống, giúp cho tình yêu chăn gối có ý nghĩa xâu đậm, và có lợi ích cho con cái vì cung ứng cho chúng nội dung tốt đẹp nhất cho sự trưởng thành và phát triển.”

Ngài cũng nói rằng những người phụ trách chương trình dự bị hôn nhân nên cố gắng không  

nhồi sọ họ với quá nhiều tài liệu, thay vào đó nên chú trọng vào việc giúp họ chấp nhận các giáo huấn của giáo hội và tìm kiếm các khuyên cáo và các chương trình thực tiễn.

Đức Thánh Cha đề nghị rằng các chương trình chuẩn bị hôn nhân cần phải giúp cho các cặp đính hôn nhận biết các vấn đề sẽ xẩy ra và những nguy hiểm họ có thể phải đối phó.

Ngài nói: “Bằng cách này các lứa đôi ý thức được sự khôn ngoan của việc cắt đứt mối tương quan khi có thể tiên đoán là sẽ thất bại và có những hậu quả đau đớn.”

Đức Thánh Cha cũng nói rằng “có nhiều cặp lấy nhau mà không thực sự hiểu biết nhau.” Muốn tránh điều này, ngài nói: họ cần phải thảo luận về những gì họ chờ đợi và mong muốn nơi hôn nhân và cuộc sống chung họ hy vọng sẽ có thể cùng chung xây với nhau sẽ ra sao.

Ngài nói: Hôn nhân không phải là “điểm cuối con đường”, nhưng là “một ơn gọi cam kết suốt đời, dựa trên một quyết định vững chắc và thực tế là sẽ cùng nhau đối phó với mọi thử thách và các giây phút khó khăn. “

Đức Thánh Cha cũng khuyên các cặp đính hôn hãy tiếp tục tìm kiếm sự trợ giúp của cha mẹ họ sau ngày cưới và nhất là trong các năm đầu của cuộc sống chung.

Ngài viết: “Các tình yêu trẻ cần phải tiếp tục nhẩy múa trên hành trình hướng về tương lai với niềm hy vọng bao la.”

Ngài tiếp: “Chính niềm hy vọng này là men nồng trong những năm đầu của việc đính hôn và hôn nhân  giúp cho họ có thể vượt thắng các tranh cãi, mâu thuẫn và xung khắc, và có thể nhìn mọi sự trong một viễn cảnh rộng lớn hơn.”

Page 2 of 96