Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Sep 21st 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Mục Vụ

Mục Vụ

Multitultural Theology and New Evangelization của Linh Mục Kim Vân Nam

Multitultural Theology and New Evangelization của Linh Mục Kim Vân Nam

Kính mời quý Đức Ông và quý Cha, Phó Tế, Tu Sĩ Nam Nữ và Anh Chị Em mua sách "Multitultural Theology and New Evangelization" của Linh mục Kim Vân Nam, Nguyên Giáo Sư tại Chủng Viện và Đại Học Thánh Patrick, Menlo Park, California.

Multicultural Theology and New Evangelization sheds light on the central role of multiculturalism in the Catholic Church of the third millennium. In this book, Van Nam Kim addresses the challenges of new evangelization in the multicultural communities of the Church. Kim answers questions regarding how Catholics can fulfill their evangelical mission and looks at the special roles of religious sisters and lay Catholics, particularly women, in the Church. He also examines new procedures for forming future priests and the obligations of priests serving outside their homelands. Multicultural Theology and New Evangelization will inspire the Church hierarchy, seminary formators, priests, and the laity to rethink current approaches to Christian life and evangelization.

Read more...

Xét Mình Mùa Vọng: Tỉnh Thức Trước Nhiếu Lối Sống Nguy Hiểm

Để sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa và gieo niềm hy vọng cho mọi người, đòi tôi phải luôn tỉnh thức trước cuộc sống của mình. Khi xét mình trong Mùa Vọng, tôi thấy mình có khi tỉnh mà không thức, có lúc thức mà không tỉnh; hoặc tỉnh thức về những điều này nhưng lại mê muội về những điều kia… Do đó, có thể tôi đang rơi vào nhiều lối sống nguy hiểm:

- Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.
- Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.
- Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.

I. Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.

1. Quá chú trọng đến bản thân mình mà ít quan tâm đến tha nhân.
2. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung.
3. Chỉ làm những điều mình muốn làm mà không làm những điều mình phải làm.
4. Đòi hỏi người khác mà không hề đòi hỏi mình.
5. Góp phần xây dựng thì ít mà chê bai phê phán thì nhiều.
6. Ham quyền hành chức vụ mà không khiêm tốn phục vụ.
7. Phục vụ theo ý mình mà không theo nhu cầu của người khác.
8. Ưa chuộng và quí mến người này nhưng ghét bỏ và khinh thường người kia.
9. Cởi mở và vui vẻ với anh em này nhưng đóng kín và lạnh lùng với anh em khác.
10. Đặt nặng công việc mà coi nhẹ con người. (Lấy con người làm phương tiện).
11. Đặt nặng hiệu năng mà coi thường tính cách và ý hướng. (Bệnh thành tích).
12. Đòi hỏi có tự do mà không có khả năng sống tự chủ.
13. Khôn nhưng không ngoan, thẳng nhưng không khéo.
14. Phán đoán bên ngoài mà không tìm hiểu bên trong. (Nông cạn, hình thức)
15. Đánh giá mình và người khác dựa vào công việc, mà không dựa vào phẩm cách.
16. Biết lỗi mà không nhận lỗi; nhận lỗi mà không sửa lỗi. (Cố chấp)
17. Làm theo những gì mình nghĩ, mà không nghĩ về những gì mình làm.
18. Nhiệt thành mà thiếu khôn ngoan. (Chủ quan, nhẹ dạ).
19. Ham nghe người khác tâng bốc mà không muốn nghe sự thật. (tự lừa dối mình).
20. Muốn mọi người phải giúp mình nhưng mình chẳng giúp ai. (ích kỷ).

II. Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.

1. Đặt nặng hình thức, tổ chức bề ngoài, mà coi thường nội dung và đời sống bên trong.
2. Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại chẳng quan tâm.
3. Lao mình vào sự hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lùng, trống vắng.
4. Đặt nặng việc hưởng thụ, coi thường việc khổ chế.
5. Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì phớt lờ.
6. Lo được lòng mọi người mà không lo được lòng Chúa.
7. Chuyên chăm việc đời mà lười biếng việc đạo.
8. Phản ứng tự nhiên mà thiếu tinh thần siêu nhiên
9. Lo bồi dưỡng thân xác mà không lo bồi dưỡng tâm hồn.
10. Sống bác ái mà thiếu chân thật, sống chân thật mà thiếu bác ái.
11. Làm việc vì danh thơm tiếng tốt hơn là vì lòng yêu mến.
12. Tìm cách thay đổi mọi người mà không thay đổi chính mình.
13. Lo xây đắp tương lai mà không sống trọn giây phút hiện tại.
14. Muốn thành quả mà không muốn hy sinh.
15. Thực thi bác ái mà lại không sống công bằng.
16. Yêu mến Chúa mà không yêu mến anh em.
17. Theo đuổi ơn gọi mà không sống ơn gọi: lo tiến thân mà không hiến thân.
18. Nỗ lực sống trung thành nhưng lại thiếu trung thực.
19. Cầu nguyện một đàng, sống một nẻo.
20. Nhiều thiện chí mà không có hành động.

III. Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.

1. Biết nhiều thứ mà không biết mình.
2. Biết thì nhiều mà sống không bao nhiêu.
3. Biết chẳng bao nhiêu mà tự kiêu tự mãn.
4. Trí thức uyên thâm mà lại thiếu đức độ.
5. Chỉ đạt lý mà không thấu tình.
6. Làm việc mà không xem tình hình, không xét hậu quả.
7. Thông minh tài trí nhưng lại sống ích kỷ, hẹp hòi.
8. Học nhiều, đọc nhiều mà thiếu suy tư nghiền ngẫm.
9. Chỉ nghe biết mà không truy tìm, tra cứu, điều nghiên.
10. Nhai lại tư tưởng người khác mà không khai sáng tư tưởng mình.
11. Chỉ dựa vào sách vở và lý thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế.
12. Thấy chi tiết mà không thấy tổng quát.
13. Muốn động tay động chân mà không muốn động não.
14. Hiểu biết nhiều nhưng không biết điều chính yếu.
15. Hiểu biết nhiều nhưng không sát, không sâu.
16. Hiểu biết mau nhưng không nguồn, không ngọn.
17. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình phải biết.
18. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình không được phép biết.
19. Hiểu biết nhiều mà không biết sống yêu thương.
20. Hiểu biết sâu xa về nhiều thứ nhưng lại hiểu biết cạn cợt về Thiên Chúa.

Những lối sống trên đây luôn nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là tôi không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Sống tỉnh thức là nhận thấy nguy hiểm do sự thiếu quân bình và cân đối trong đời sống mình về mọi mặt. Chỉ một chút quá đà sẽ gây ra hư hại khó lường. Chỉ một chút hụt hẫng sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị ma quỷ khống chế và thống trị.

Thật vậy: “Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước” (Mt 12,44-45).

Lm. Thái Nguyên

MÙA VỌNG VỚI HAI HY VỌNG

1. Mùa Vọng, tôi có hai hy vọng. Hy vọng thứ nhất là hy vọng tôi biết đón nhận Chúa. Hy vọng thứ hai là hy vọng tôi được Chúa đón nhận tôi.

Hy vọng vẫn là hy vọng, nghĩa là chỉ trong ước mong. Còn điều tôi ước mong có được thực hiện hay không lại là chuyện khác.

Tôi rất lo cho sự thực hiện hai hy vọng trên đây của tôi. Nỗi lo của tôi có cơ sở Phúc Âm và thực tế lịch sử.

2. Trước hết, xin nói về hy vọng biết đón nhận Chúa.

Phúc Âm cho thấy nhiều người theo đạo Chúa thời Đức Giêsu Kitô xuất hiện, đã không biết đón nhận Người.

Thánh Gioan Tông đồ đã viết ngay trong “lời tựa” Phúc Âm của Ngài những câu đau đớn: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có. Nhưng thế gian lại không nhận biết Người

Người đã đến nhà mình, nhưng những người nhà lại chẳng chịu đón nhận Người” (Ga 1,9-11).

Thực là phũ phàng.

3. Sự thực phũ phàng đó lại xảy ra ngay tại Nadarét, là quê hương của Chúa Giêsu.

Thánh sử Luca viết: “Rồi Đức Giêsu đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, và đứng lên đọc sách thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:

Thần Khí Chúa ngự trên tôi,

vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi

để tôi loan báo Tin Mừng

cho người nghèo khó

...

Người bắt đầu nói với họ: Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe. Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.

Họ bảo nhau: Ông này không phải là con ông Giuse đó sao? Người nói với họ: Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình. Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, là quê hương của ông xem nào. Người trả lời: Tôi bảo thật các ông: Không một tiên tri nào được chấp nhận tại quê hương.

...

Mọi người trong hội đường đều phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,16-20).

Đồng hương của Chúa Giêsu không những không đón nhận Người, mà còn định tiêu diệt Người. Thực là một sự thực phũ phàng đầy đau đớn.

4. Sự thực phũ phàng đau đớn như thế lại đã xảy ra một cách độc ác ngay chính những người đứng đầu đạo Chúa thời Chúa Giêsu.

Thánh sử Marcô ghi lại một cách rõ ràng: “Hai ngày trước lễ Vượt qua và lễ không men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu để bắt Đức Giêsu mà giết đi.

...

Họ điệu Đức Giêsu đến vị thượng tế. Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đều tựu lại... Bấy giờ các thượng tế và toàn thể Thượng hội đồng tìm lời chứng buộc tội Đức Giêsu để làm án tử hình, nhưng họ không tìm ra...

...

Họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho quan Philatô.

Các thượng tế sách động đám đông đòi ông Philatô lên án giết Đức Giêsu” (Mc 14,1-11).

5. Những chuyện phũ phàng đau đớn và ác độc trên đây không phải là không tái diễn trong lịch sử Hội Thánh dưới nhiều hình thức khác nhau, rải rác đó đây, nơi này nơi nọ.

6. Chuyện xua đuổi Chúa một cách quy mô có thể là không nhiều. Nhưng chuyện dửng dưng không đón nhận Chúa là chuyện phải nói là thông thường. Chúa phán: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy” (Kh 3,20). Biết bao lần, tôi đã không tỉnh thức nghe tiếng Chúa gõ cửa lòng tôi. Biết bao lần, tôi nghe tiếng Chúa gọi, nhưng tôi đã không mở cửa lòng tôi ra, để đón Chúa.

Không đón Chúa đến với mình, đó là một thực tế đau lòng, mà tôi thấy đang xảy ra nơi nhiều người đạo Chúa.

Thực tế đau lòng đó cũng rất có thể đang xảy ra nơi tôi. Lạy Chúa, xin Chúa xót thương con.

7. Bây giờ, tôi nhìn sang hy vọng thứ hai của tôi, đó là hy vọng tôi được Chúa đón nhận.

Phúc Âm cho thấy điều này: Những điều Chúa Giêsu giảng dạy dưới mọi hình thức đều quy về mục đích đưa con người vào chính lộ dẫn về Nước Trời, nơi được hạnh phúc trường sinh bên Chúa.

Những ai đi vào chính lộ, phấn đấu làm điều phúc đức, tránh điều tội lỗi, bước theo Chúa đến cùng, sẽ được Chúa đón nhận vào thiên đường. Còn những ai làm theo ý riêng mình, không từ bỏ tội lỗi, không sám hối, trở về với Chúa, sẽ không được Chúa đón nhận. Những ai được Chúa đón nhận và những ai không được Chúa đón nhận đều đã được Chúa nói rõ trong Phúc Âm, nhất là trong nhiều dụ ngôn, đặc biệt là trong bài nói về ngày phán xét.

8. Phán đoán của Chúa rất công minh, và rất nhiệm mầu. Nhưng chắc chắn điều này là: Chúa ưa thích những ai khiêm nhường, chân thành, tin cậy vào Chúa và biết xót thương người khác, luôn tìm thực thi ý Chúa và biết sám hối. Tôi nhớ tới người phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7,38-50) và người trộm cướp bị đóng đinh bên hữu Chúa (x. Lc 23,40-43).

Có thể nói tinh thần hưởng thụ, nếp sống thực dụng và thói quen đưa mình lên luôn là những cản trở khiến con người mọi nơi mọi thời không được Chúa đón nhận.

Lời Chúa phán sau đây làm tôi lo sợ: “Trong ngày ấy, nhiều  người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Nhưng, bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố vói họ: Ta không hề biết các ngươi là ai. Hãy xéo đi cho khuất mặt Ta, hỡi những kẻ làm điều gian ác” (Mt 7,22-23). Như vậy, tôi đừng có chủ quan tự mãn với những việc tôi làm, mà tôi tưởng là lành thánh. Bởi vì rất có thể khi tôi làm những việc đó, đã có pha mục đích khoe khoang, và trái ý Chúa.

9. Với vài suy nghĩ trên đây, tôi thấy Mùa Vọng của tôi sẽ là thời gian quý giá để rà soát lại hai hy vọng của tôi.

Tôi rà soát lại bên Đức Mẹ Maria và bà thánh Isave, là hai phụ nữ quan trọng trong mùa Vọng.

Đức Mẹ Maria đã đón nhận Chúa một cách rất khiêm nhường, phó thác. Còn Chúa, Chúa đã đón nhận Mẹ một cách bất ngờ với tình yêu thương xót, và đã làm nơi Mẹ những sự lạ lùng, vì danh Người là Thánh.

Bà thánh Isave đã đón nhận Chúa với lòng tin mãnh liệt và tâm tình cảm tạ khiêm cung. Còn Chúa, Chúa đã đón nhận Bà một cách tế nhị kín đáo với một chương trình cứu độ hết sức lớn lao.

Đức Mẹ Maria cưu mang Chúa Giêsu, bà Isave cưu mang thánh Gioan Baotixita. Cả hai phụ nữ cưu mang ấy đã rất âm thầm, nhưng đã cộng tác rất đắc lực với chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Ở bên Đức Mẹ Maria và bà thánh Isave, tôi trở thành bé nhỏ. Và tự nhiên, tôi hiểu bé nhỏ, khiêm nhường, nghèo khó, tin tưởng ở Chúa chính là những điều kiện cần, để sống mùa Vọng với hai hy vọng của tôi.

Nghèo khó, khiêm nhường, bé nhỏ, tin cậy ở Chúa là mấy nét căn bản của đời sống nội tâm Kitô giáo. Nếu thiếu đời sống nội tâm với những nét căn bản đó, tôi có thể sẽ chỉ còn là người của một cơ chế tôn giáo, chứ không là chứng nhân đích thực của đức tin.

Lạy Chúa, xin thương xót con.

Long Xuyên, ngày 25 tháng 11 năm 2013

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Đức Thánh Cha Cổ Võ Đối Thoại Liên Tôn

VATICAN. ĐTC Phanxicô kêu gọi thăng tiến đối thoại liên tôn trong tinh thần xây dựng, tôn trọng xác tín và căn tính tôn giáo của nhau.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 28-11-2013, dành cho 50 tham dự viên khóa họp toàn thể của Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn, nhóm tại Vatican từ ngày 25 đến 28-11-2013 về đề tài ”Các thành phần của các truyền thống tôn giáo khác nhau trong xã hội dân sự”. Trong số các thành viên của hội đồng Tòa Thánh tham dự khóa họp này có Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ, nguyên GM Phú Cường.

Ngỏ lời trong dịp này, ĐTC nhắc lại điều ngài đã viết trong Tông Huấn ”Niềm Vui Phúc Âm” (Evangelii gaudium) mới công bố, theo đó ”một thái độ cởi mở trong sự thật và yêu thương phải là đặc tính của cuộc đối thoại với các tín đồ các tôn giáo không Kitô, tuy có những chướng ngại và khó khăn, đặc biệt là những trào lưu cực đoan trong cả hai phía” (250).

ĐTC minh xác rằng ”Đối thoại không có nghĩa là từ bỏ căn tính của mình khi đi gặp người khác, và cũng không phải là chiều theo những thỏa hiệp về đức tin và luân lý Kitô. Trái lại ”sự cởi mở chân thực bao hàm sự giữ vững những xác tín sâu xa nhất của mình, với một căn tính rõ ràng và vui tươi” (ibid. 251), nhờ đó, biết cởi mở tìm hiểu những lý do của tha nhân, có khả năng có được những quan hệ tôn trọng lẫn nhau, với xác tín rằng cuộc gặp gỡ người khác biệt chúng ta có thể là cơ hội để tăng trưởng trong tình huynh đệ, được phong phú hơn và là dịp để làm chứng tá”.

ĐTC cũng khẳng định rằng ”đối thoại liên tôn và loan báo Tin Mừng là hai điều không loại trừ nhau nhưng nuôi dưỡng nhau. Chúng ta không áp đặt điều gì cả, chúng ta không sử dụng chiến lược tinh quái để thu hút tín đồ, nhưng chúng ta làm chứng trong niềm vui, với tinh thần đơn sơ, về những gì chúng ta tin và về thực tính của mình.”

ĐTC phê bình những cuộc gặp gỡ trong đó mỗi bên gạt qua một bên điều mình tin, giả vờ từ bỏ những gì là quý giá của mình. Một cuộc gặp gỡ như thế chắc chắn là không chân chính, và chỉ là một thứ tình huynh đệ giả dối.
Ngài nhấn mạnh rằng ”Trong tư cách là môn đệ Chúa Giêsu, chúng ta phải nỗ lực khắc phục sợ hãi, sẵn sàng đi bước đầu, không để cho mình nạn chí trước những khó khăn và hiểu lầm”.

Sau cùng ĐTC nói: ”Cuộc đối thoại xây dựng giữa những người thuộc các truyền thống tôn giáo khác nhau cũng giúp vượt thắng một thứ sợ hãi khác mà chúng ta thấy đang gia tăng trong những xã hội ngày càng bị tục hóa nặng nề hơn: đó là sự sợ hãi đối với các truyền thống tôn giáo khác và chính chiều kích tôn giáo nói chung. Tôn giáo bị coi như một cái gì vô ích, và thậm chí là nguy hiểm. Nhiều khi người ta đòi các tín hữu Kitô phải từ bỏ các xác tín tôn giáo và luân lý của họ trong khi thi hành nghề nghiệp. Nhiều người ngày nay nghĩ rằng chỉ có thể sống chung trong xã hội nếu mỗi người che đậy tôn giáo củamình, bước vào một không gian gọi là trung lập, không có tham chiếu nào đề siêu việt.”

ĐTC đặt câu hỏi: ”Cả trong trường hợp này, làm sao có thể kiến tạo những tương quan chân thực, xây dựng một xã hội thực sự là căn nhà chung, khi người ta bị buộc phải gạt bỏ điều mà mỗi người coi là phần thâm sâu nhất trong con người của họ? Không thể nghĩ tới một thứ tình huynh đệ ”trong phòng thí nghiệm” (SD 28-11-2013)

G. Trần Đức Anh, OP

SỐNG ĐỨC TIN VỚI NHỮNG GIỚI HẠN

1. Càng về cuối đời, tôi càng nhận thức rõ hơn về những giới hạn của mình, cách riêng là về 3 giới hạn sau đây.

2. Giới hạn về sự nhận biết ơn Chúa ban cho tôi.

Xưa, trên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria rằng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban cho chị” (Ga 4,10). Với lời đó, Chúa Giêsu cho người phụ nữ thấy chị chưa thực sự nhận ra ơn Chúa ban cho chị.

Lời đó cũng nhắc bảo tôi là tôi chưa nhận biết đúng về tất cả những ơn Chúa đã ban cho tôi.

Ơn Chúa ban cho tôi rất nhiều, thuộc phần hồn và phần xác, trong mọi lãnh vực.

Nói theo ngôn từ Phúc Âm, những ơn Chúa ban cho tôi đủ loại đó có thể ví như những nén bạc, mà Chúa trao cho tôi, để tôi sinh lời (x. Mt 25,14-28). Tôi có dùng những nén bạc đó, để làm cho tôi nên người tốt, có lợi cho phần rỗi của mình và của người khác, cũng như cho Nước Chúa không?

Tôi phải lương thiện nhìn nhận rằng: Trong việc nhận ra ơn Chúa ban, tôi đã có nhiều giới hạn.

Biết bao lần, những niềm vui và những thành công thì được tôi nhìn nhận là ơn Chúa, còn những đớn đau và những thất bại thì không nhận là ơn Chúa, đang khi chính những đớn đau và những thất bại lại chính là cơ hội Chúa gởi tới để Chúa ban cho tôi những ơn cao quý.

Biết bao lần, những người giàu sang đến với tôi để tặng quà cho tôi, thì tôi cho là ơn Chúa ban, còn những người nghèo khổ đến với tôi để xin cầu cứu, thì tôi không cho là ơn Chúa, đang khi họ chính là địa chỉ chính xác Chúa đợi, để bất cứ sự gì tốt tôi làm cho họ, đều sẽ được Chúa kể như là làm cho chính Chúa.

Biết bao lần, Chúa gởi đến cho tôi những biến cố, những con người, những sự việc kêu gọi tôi sửa mình, để trở nên người đạo đức hơn. Nhưng tôi không quan tâm, vẫn dửng dưng, vẫn bỏ lỡ cơ hội.

Xưa, Chúa Giêsu đến với các người đồng hương, rao giảng Tin Mừng, nhưng họ không nhận ra Người là Tin Mừng, họ xua đuổi Người.

Xưa, Chúa Giêsu trừ quỷ và làm nhiều phép lạ, để làm chứng Người là Tin Mừng cứu độ. Nhưng bao người có đạo thời đó, chính các thượng tế và Thượng Hội Đồng cũng không tin nhận Người, thậm chí còn tìm cách giết Người.

Rất có thể, Chúa Giêsu cũng đang đến giữa lịch sử hôm nay và đang làm nhiều phép lạ. Nhưng biết đâu nhiều người, trong đó có tôi, vẫn không nhận ra Người.

Giới hạn trong sự nhận ra ơn Chúa luôn vẫn mãi tồn tại. Biết đâu giới hạn đó nơi tôi đang trong tình trạng trầm trọng.

4. Một giới hạn nữa nơi tôi cũng có thể trong tình trạng trầm trọng, đó là giới hạn về sự khôn ngoan.

Phúc Âm dạy tôi phải rất khôn ngoan. Khôn ngoan trước hết là trong những ưu tiên phải chọn cho đời mình.

Ưu tiên lo cho phần rỗi linh hồn. Chúa phán: “Được mọi sự thế gian, mà mất linh hồn, thì nào được ích gì?” (Mt 16,26).

Ưu tiên biết sợ Chúa. Chúa phán: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy biết sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác anh em trong hoả ngục” (Mt 10,28).

Ưu tiên thực thi ý Chúa. Chúa phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Thêm vào sự khôn ngoan về chọn ưu tiên, Chúa cũng đòi phải khôn ngoan trong thái độ sống:

Chúa phán: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói. Anh em phải khôn như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10,16).

Phúc Âm cho thấy: Cũng là việc rao giảng, cũng là việc làm phép lạ chữa bệnh, cũng là việc trừ quỷ, nhưng Chúa Giêsu có lúc làm những việc đó ở nơi này mà không làm ở nơi khác, có lúc làm ở thời điểm này, mà không làm ở thời điểm khác. Đó là bài học về sự khôn ngoan trong thái độ sống.

Một bài học nữa Chúa dạy tôi về sự khôn ngoan trong mục vụ. Chúa phán: “Ách tôi thì êm ái, và gánh tôi thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Với lời đó, Chúa muốn những môn đệ Chúa đừng bao giờ làm cho bất cứ ai lầm tưởng: Theo đạo Chúa là phải mang lấy những gánh nặng, nhưng trái lại sẽ cảm thấy cuộc sống đạo là êm ái, là nhẹ nhàng. Sự khôn ngoan đó trong mục vụ của Chúa luôn cảnh giác tôi về các thứ mục vụ chồng chất những gánh nặng về luật lệ không cần thiết.

Giới hạn về sự khôn ngoan nơi tôi là thế nào? Tôi nhìn nhận là có nhiều. Nếu tôi không thận trọng, giới hạn đó cũng có thể trở nên nguy hiểm.

5. Giới hạn nguy hiểm nữa nơi tôi là giới hạn về sự tỉnh thức.

Từ ít lâu nay người ta nói nhiều đến dấu chỉ thời đại. Dấu chỉ thời đại thường là những khác thường xảy ra trong lịch sử, thí dụ sự kiện Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Phanxicô xuất hiện kéo chú ý nhiều người về cải cách trong lãnh vực đạo đức, mục vụ và truyền giáo. Rất nhiều người nhìn Ngài mà hiểu về hướng thời đại.

Xưa Chúa Giêsu phán với các người Pharisêu và Sađốc rằng: “Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điểm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi” (Mt 16,3). Nếu tôi không cố gắng, tôi cũng sẽ bị Chúa trách như thế.

Một tỉnh thức nữa, tôi rất sợ tôi cũng có nhiều giới hạn, đó là tỉnh thức về bổn phận liên đới.

Chúa dạy tôi về bổn phận liên đới trong dụ ngôn người phú hộ và người ăn mày Ladarô (x. Lc 16,19-31). Nhà phú hộ hưởng thụ tối đa những gì ông có, như địa vị cao sang, của cải dư thừa, bạn bè quý tộc, với những tiệc tùng ngày nọ sang ngày kia. Đang khi đó, ngay ở cửa nhà ông, có một người ăn mày nằm đó, bệnh tật, đói khổ, cô đơn. Nhà phú hộ coi mình như không có bổn phận gì với người ăn mày đó. Nhưng, sau khi chết rồi, Chúa xét xử ông rất công minh về bổn phận liên đới của ông với người ăn mày. Ông bị ném xuống hoả ngục, đời đời sẽ phải ở đó.

Dụ ngôn trên đây đòi tôi phải tỉnh thức rất nhiều về bổn phận liên đới của tôi với những người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn xung quanh tôi.

Một tỉnh thức nữa, mà Chúa hay nhắc tôi trong Phúc Âm là tỉnh thức đón giờ Chúa gọi về đời sau. Có thể sẽ có những bất ngờ. Nếu không tỉnh thức, tôi sẽ phải lãnh lấy những hậu quả khủng khiếp đời đời.

Nhưng từ đây đến khi chết, tôi sẽ gặp nhiều bất ngờ, trong đó có những bất ngờ đau đớn và khủng khiếp. Nếu tôi không tỉnh thức, những bất ngờ đó có thể sẽ tàn phá đời tôi và tương lai của Hội Thánh.

6. Tôi xin tạm dừng ở đây, để cảm tạ Chúa đã cho tôi thấy những giới hạn của tôi. Cảm tạ đi đôi với sám hối. Tất cả đều dựa trên đức tin.

Tôi tin ở Chúa, mà không có giới hạn nào. Tin như trẻ thơ trong lòng người mẹ, người cha của mình. Tin tuyệt đối, tin vững vàng.

Tin của tôi là gặp gỡ Chúa Kitô, vâng lời Người là gắn bó mật thiết với Người. Tin của tôi là dấn thân bước theo Chúa Kitô sống yêu thương phục vụ.

Tin của tôi là phó thác mình cho Chúa với nhận thức mình tội lỗi, yếu đuối, hèn hạ và với xác tín Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.

Lạy Chúa, xin xót thương con.

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

HÃY BƯỚC RA KHỎI MỒ

1. Tôi còn sống. Nhưng tôi đã thấy nơi sẽ chôn xác tôi. Một ngày nào đó, ngôi mồ ấy sẽ là nơi ở sau cùng của tôi.

Nhưng, tôi tin, đến ngày phán xét chung, tôi sẽ được ra khỏi nơi ấy, theo lệnh của Chúa. “Hãy bước ra khỏi mồ”.

2. Nhưng ngay bây giờ, tôi vẫn thường nghe trong lòng tôi lời Chúa gọi: “Hãy bước ra khỏi mồ”. Dần dần, tôi hiểu lời gọi đó có ý nghĩa thiêng liêng. Nghĩa là, trên đời này, có những ngôi mồ vô hình. Chúng muốn chôn sống tôi. Phải canh chừng, đừng để mình bị rơi vào đó. Nếu chẳng may, đã bị rơi vào đó rồi, thì hãy tìm cách bước ra.

“Hãy bước ra khỏi mồ”. Tôi nghe, tôi hiểu, và tôi thưa với Chúa: “Xin Chúa thương cho con thấy rõ sự ác nào đang là mồ đe doạ con”. Chúa dạy tôi qua Lời Chúa và qua thực tế.

3. Sự ác thứ nhất đóng vai mồ chôn sống con người là đạo đức giả.

Chúa Giêsu phán: “Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh sư và Pharisêu giả hình. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ thối tha. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23,27-28).

4. Sự ác thứ hai đóng vai mồ chôn sống con người là lười biếng.

Trong dụ ngôn những nén bạc, ông chủ khen thưởng những đầy tớ biết dùng những nén bạc chủ trao gởi, để sinh lời. Còn người đầy tớ không làm ra lời nén bạc được trao, đã bị phạt. Chủ gọi đầy tớ đó là tồi tệ, biếng nhác, và vô dụng, bị ném vào nơi tối tăm (x. Mt 25,24-30).

5. Sự ác thứ ba đóng vai mồ chôn sống con người là tính ích kỷ, không chịu cứu giúp những người cùng khổ.

Trong bài giảng về cuộc Phán xét chung, Chúa sẽ quyết liệt với những ai ích kỷ, không chịu thương cứu những người đau khổ. Chúa phán: “Mỗi lần các ngươi đã không làm như thế (tức là cứu giúp) cho một trong những người bé nhỏ nhất, là các ngươi đã không làm cho chính Ta... Thế là họ sẽ bị cực hình muôn kiếp” (Mt 25,41-46).

6. Sự ác thứ bốn đóng vai mồ chôn sống con người là sự quá tìm hưởng thụ ở giàu sang.

Chúa Giêsu đã phán: “Các con ơi, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10,25).

7. Sự ác thứ năm đóng vai mồ chôn sống con người là sự phô trương, ham thích được ca tụng khi làm các việc lành.

Chúa Giêsu đã nói rất rõ về những người cầu nguyện, ăn chay, bố thí, mà ham muốn được người ta khen ngợi. Họ sẽ bị Chúa loại bỏ. Vì: “Chúng đã được thưởng công rồi” (x. Mt 6,2.5.16).

8. Sự ác thứ sáu đóng vai mồ chôn sống con người là kiêu ngạo, không nhận mình là kẻ tội lỗi.

Chúa phán với các Pharisêu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây, các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41).

9. Nhận ra 6 sự ác trên đây đang đóng vai mồ chôn sống con người, tôi sợ cho tôi. Tôi nói nỗi sợ đó của tôi cho một số người. Phần đông họ đều khuyên tôi không nên sợ. Cứ sống sao cho thoải mái, vui vẻ. Đừng quá sợ những rủi ro có thể xảy ra ở đời sau.

Chúa liền soi sáng cho tôi thấy: Không biết sợ những gì sẽ xảy ra đời sau, đó là một sự ác rất nguy hiểm đóng vai mồ chôn sống tôi. Và chính đó là tinh thần tục hoá đang phá hoại đức tin hiện nay.

Nếu vậy, thì tinh thần tục hoá, không biết sợ Chúa, sẽ là sự ác thứ 7 đóng vai mồ chôn sống tôi.

Với tất cả tấm lòng tin cậy, tôi xin Chúa cứu tôi. Xin Người thương giúp tôi bước ra khỏi những mồ chôn sống tôi, nếu thực sự, một cách nào đó, tôi đang bị chôn trong những mồ ấy.

10. Chúa hứa là Chúa sẽ cứu tôi. Nhưng tôi phải cộng tác vào ơn Chúa cứu. Bằng những việc sau đây. Tôi xin được rất vắn gọn.

1) Tôi phải cầu nguyện nhiều. Cầu nguyện ở đây cốt yếu là gặp gỡ Chúa, xin ơn vâng phục thánh ý Chúa, để thuộc về Chúa, để được về với Chúa. Khi cầu nguyện, tôi phải tin cậy vô điều kiện ở lòng thương xót Chúa. Tôi thường nói với Chúa rằng: Xưa ông Ladarô chết, chôn trong mồ, đã bốc hôi thối, thế mà Chúa cũng vẫn làm cho ông sống lại, bước ra khỏi mồ. Nay, con dù cũng đã hư thối, con tin Chúa cũng dư sức làm cho con sống lại, bước ra khỏi mồ. Tôi cầu xin trong tâm tình kết hợp với Thánh Linh.

11. 2) Tôi phải sám hối nhiều. Sám hối của tôi chủ yếu là giục lòng yêu mến Chúa nhiều hơn. Đồng thời, cũng xin chịu những đau đớn xảy ra, để đền tội. Sám hối đòi phải cậy tin ở lòng thương xót Chúa. Như đứa con hoang đàng trở về với Cha. Nhất định sống xứng đáng người con của Chúa, theo gương mẫu Chúa Giêsu, sẵn sàng phấn đấu để nên người mới. Tôi thường nói với Chúa: Con tội lỗi lắm. Xin Chúa đừng bỏ con.

12. 3) Tôi phải cậy nhờ ở nhiều người khác, xin họ thương cứu giúp tôi. Chúa cứu tôi, nhưng rất nhiều lần Chúa dùng những con người để thực hiện việc cứu đó. Sự cậy nhờ người khác chính là một việc khiêm nhường trong tình liên đới, có sức chữa lành nhiều thứ bệnh tâm hồn. Đặc biệt tôi phải nhờ đến những người đạo đức, thực sự sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Họ là bậc thầy của tôi.

13. 4) Tôi phải góp phần cứu người khác trong mọi trường hợp, mà tôi có thể cứu họ.

Cứu người khác chính là một cách tôi bước ra khỏi mồ chôn tôi. Cứu người khác là cả một sự mở ra quảng đại tấm lòng của mình. Cho dù mình rất bị giới hạn về của cải vật chất, nhưng vẫn có thể giàu về tâm hồn, để mà cho đi. Nhất là cho đi niềm hy vọng về Tin Mừng ở Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Tôi cứu họ do ơn gọi được sai đi. Tôi cho đi ít, mà nhận được nhiều.

14. 5) Tôi phải khiêm tốn đợi chờ giờ Chúa đến cứu. Chúa thường đến bất ngờ, và cứu bằng những cách bất ngờ. Rất nhiều khi bằng cách kín đáo, chỉ như một sự hiện diện thân thương. Tôi đợi chờ Chúa, để mà tạ ơn, để mà yêu mến, để mà phó thác. Đôi khi Chúa đến cứu tôi bằng cách cho tôi thấy những sự thực đau đớn. Như hình ảnh sau đây, mà thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết: “Đến ngày phán xét chung, chúng ta sẽ thấy nhiều tông đồ giống như những cây sến đẹp đẽ, cành rộng phủ bóng xa, chim trời xuống làm tổ ở đó. Nhưng chúng ta sẽ thấy gì trong ngày phán xét? Chúng ta sẽ thấy bên trong những cây đó đã bị rỗng, do mối mọt kiêu ngạo và thích hư danh đục khoét”.

15. Theo kinh nghiệm của tôi, mồ nguy hiểm nhất đang chôn sống nhiều người công giáo chúng ta, chính là tính tự mãn và chủ quan.

Tự mãn và chủ quan đang phát triển mạnh và công khai như một đức tính tốt tại nhiều cá nhân và cộng đoàn. Y hệt như thời đạo cũ, lúc Chúa Giêsu xuống thế làm người rao giảng sự cải cách. Do tự mãn và chủ quan, chính những người có đạo thời đó đã giết Chúa Giêsu.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con biết cầu nguyện và tỉnh thức, để có thể đón nhận ơn Chúa cứu độ, mà Chúa dành cho những kẻ khiêm nhường bé mọn.

Xin Chúa thương giúp cho việc đào tạo trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay đem lại cho đồng bào Việt Nam những chứng nhân về sự thánh thiện của Chúa Giêsu khó nghèo, khiêm tốn và yêu thương quên mình, dồi dào sức sống nội tâm, như một của lễ tình yêu hiến dâng cho Chúa, vì phần rỗi các linh hồn.

Long Xuyên, ngày 3 tháng 11 năm 2013.

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Hội Nghị Thường Niên 2013 Liên Hiệp Bề Trên Thượng Cấp Việt Nam

K’Long, Đà Lạt  –  05-06-07/11/2013

Hội nghị thường niên Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam năm 2013 được tổ chức tại Trung tâm Don Bosco K’Long, thuộc giáo phận Đà Lạt từ ngày 05 đến ngày 07 tháng 11 năm 2013, với chủ đề: “Quyền bính và quản trị trong đời sống Thánh hiến”.

1. Có 137 đại biểu tham dự là các Bề trên và đại diện Bề trên thuộc các đơn vị Dòng tu, Tu hội, Tu đoàn Tông đồ trong toàn quốc.

Read more...

Tài liệu chuẩn bị Đại hội chung ngoại thường lần thứ ba của Thượng Hội đồng Giám mục (5 – 9/10/2014)

WHĐ (30.10.2013) – Hồi đầu tháng này, Đức Thánh Cha Phanxicô công bố sẽ triệu tập Đại hội chung ngoại thường lần thứ ba của Thượng Hội đồng Giám mục tại Roma từ ngày 05 đến ngày 19 tháng Mười 2014, về chủ đề “Các thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh của công cuộc loan báo Tin Mừng”.

Để chuẩn bị cho Đại hội này, Đức Tổng giám mục Lorenzo Baldisseri, Tổng thư ký Thượng Hội đồng Giám mục, đã gửi đến các Hội đồng Giám mục trên thế giới một Tài liệu chuẩn bị, trình bày những suy tư căn bản, kèm theo Bản Câu hỏi, mời gọi các Giáo Hội địa phương đóng góp ý kiến. Theo yêu cầu của Đức Tổng giám mục Baldisseri, các Giáo Hội địa phương phải gửi bản góp ý của mình về cho Roma chậm nhất là cuối tháng 1/2014.

Read more...

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM: THƯ CHUNG GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA

HỘI THÁNH CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM VÀ CÔNG CUỘC TÂN PHÚC-ÂM-HÓA

Anh chị em thân mến,

“Nguyện xin ân sủng Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, ở cùng tất cả anh chị em” (x. 2Cr 13,13). Chúng tôi, các giám mục từ 26 giáo phận Việt Nam, quy tụ tại Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn để tham dự Đại hội lần thứ XII của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, xin cảm ơn anh chị em đã cầu nguyện nhiều cho chúng tôi để Đại hội diễn ra cách tốt đẹp và bình an. Nay Đại hội đã kết thúc, qua Thư Chung này, chúng tôi muốn chia sẻ với anh chị em những công việc đã làm trong Đại hội, cách riêng về sứ vụ Tân Phúc-Âm-hoá.

Read more...

TRỞ NÊN GÁNH NẶNG

1. Cuối cuốn “Tự Thuật”, thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã viết: “Lạy Chúa, xin đừng để con trở nên gánh nặng cho Nhà Dòng”.

Lời cầu đó rất chân thành. Chỉ vì yêu mến các chị em, và không muốn Nhà Dòng phải tốn tiền, tốn giờ, tốn sức vì mình, nên Têrêsa đã cầu xin Chúa đừng để mình bao giờ trở nên gánh nặng cho cộng đoàn.

Read more...
Page 4 of 16