Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Saturday
Nov 18th 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Mục Vụ

Mục Vụ

Tôn Trọng Sự Thật và Phẩm Giá Con Người

Trong tháng 5 tới đây Đức Thánh Cha Biển Đức XVI mời gọi chúng ta hiệp ý với tín hữu công giáo toàn thế giới cầu xin cho các phương tiện truyền thông xã hội biết tôn trọng sự thật và phẩm giá của từng người.

Read more...

Để Được Gặp Chúa Phục Sinh

Được gặp Chúa Phục Sinh là một ân huệ lớn lao. Các môn đệ Chúa xưa đã được ân huệ đó.

Khi Chúa Phục Sinh đến gặp họ, họ cảm nhận được rằng: Họ được Chúa yêu thương, được Chúa cứu độ, được Chúa chọn và được Chúa sai đi. Họ xác tín rằng: Không những họ được ơn Chúa yêu thương, mà họ còn được ơn biết yêu mến Chúa và yêu thương người khác.

Read more...

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi giới trẻ

Nhân Ngày Giới trẻ Thế giới XXVI (năm 2011)

“Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7)

Các bạn trẻ thân mến,

Tôi thường nhớ lại những ngày Đại hội Giới trẻ Thế giới diễn ra tại Sydney năm 2008. Ở đó, chúng ta đã sống trong đại lễ của đức Tin, có Thánh Thần Chúa hoạt động mạnh mẽ, tạo nên mối hiệp thông sâu xa nơi tất cả những người tham dự đến từ khắp nơi trên thế giới.

Read more...

Giới thiệu sách giáo lý “Youcat” dành cho giới trẻ

VATICAN. Sáng 13-4-2011, ĐHY Stanislaw Rylko, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân, đã mở cuộc họp báo giới thiệu sách giáo lý dành cho giới trẻ, gọi tắt là Youcat sẽ được phổ biến trong dịp Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 23 sẽ tiến hành tại Madrid, Tây Ban Nha, từ ngày 16 đến 21-8 năm nay.

Read more...

Ngày hành hương cầu nguyện của Đức Thánh Cha và các vị lãnh đạo tôn giáo tại Assisi

ASSISI. Ngày 2-4-2011, Đức GM giáo phận Assisi cùng với các Bề trên Tổng quyền dòng Phanxicô đã công bố diễn tiến “ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công lý trên thế giới” do ĐTC Biển Đức 16 triệu tập tại Assisi vào ngày 27-10 năm nay.

Ngày 1-1-2011, ĐTC đã tuyên bố dành ngày 27-10 năm nay để kỷ niệm đúng 25 năm cuộc gặp gỡ lịch sử ngày 27-10-1986 do Đức Gioan Phaolô 2 triệu tập tại Assisi. Ngày kỷ niệm sắp tới được gọi là “Ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công lý trên thế giới” với chủ đề “Lữ hành chân lý, Lữ hành hòa bình”.

Trong cuộc họp báo các vị hữu trách cho biết phái đoàn hành hương gồm đại diện các Giáo Hội Kitô và các truyền thống tôn giáo khác cũng như một số nhân vật thuộc giới văn hóa và khoa học được mời. Giống như hồi năm 2002, đoàn sẽ khởi hành bằng xe hỏa từ Roma sáng ngày 27-10 cùng với ĐTC. Khi đến Assisi, các vị sẽ đi bộ đến Vương cung thánh đường Đức Mẹ các thiên thần do dòng Anh em hèn mọn Phanxicô (OFM) coi sóc. Tại đây các cuộc gặp gỡ trước sẽ được nhắc lại và đồng thời đào sâu đề tài của ngày hành hương gặp gỡ lần này. Một số trưởng phái đoàn và ĐTC sẽ lần lượt lên tiếng. Tiếp theo đó là bữa ăn trưa thanh đạm trong tinh thần huynh đệ, và liên đới với bao nhiêu người đau khổ, không được hòa bình. Sau đó là thời gian thinh lặng, suy tư và cầu nguyện.

Ban chiều, tất cả những người hiện diện tại Assisi sẽ đi bộ lên Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô do Dòng Phanxicô Viện Tu coi sóc (OFM Conv.), dọc theo con đường lên dốc dài, tượng trưng hành trình của mỗi người trong việc tìm kiến chân lý và tích cực xây dựng công lý và hòa bình. Hành trình này sẽ diễn ra trong thinh lặng để mỗi người suy niệm và cầu nguyện.

Trước Vương cung Thánh đường thánh Phanxicô, sẽ diễn ra giai đoạn chót trong ngày, với lời long trọng tái quyết tâm xây dựng hòa bình.

Để chuẩn bị cho ngày hành hương và cầu nguyện trên đây, chiều ngày 26-10-2011 trước đó, ĐTC sẽ chủ sự một buổi canh thức cầu nguyện với các tín hữu thuộc giáo phận Roma. Các giáo phận và cộng đoàn trên thế giới cũng được mời tổ chức một buổi cầu nguyện tương tự.

Thông cáo cũng cho biết trong những tuần lễ tới đây, các vị HY Chủ tịch của 3 Hội đồng Tòa Thánh Hiệp nhất các tín hữu Kitô, Đối thoại liên tôn và Văn hóa sẽ nhân danh ĐTC viết thư cho tất cả những vị được mời. ĐTC cũng mời gọi các tín hữu Công Giáo cùng với ngài cầu nguyện cho buổi cử hành biến cố quan trọng này và ngài cám ơn tất cả những người có thể hiện diện tại quê hương của thánh Phanxicô để chia sẻ cuộc hành hương tinh thần này.

Thông cáo chung trên đây được công bố trong cuộc họp báo sáng 2-4-2011 dưới quyền chủ tọa của Đức TGM Domenico Sorrentino, GM giáo phận Assisi. Cùng được công bố còn có một thông cáo báo chí với chữ ký của Đức Cha và 5 cha Bề tổng quyền 5 ngành của dòng Phanxicô (OFM, OFM Conv., OFM Cap., TOR và OFS), qua đó, cùng với các nữ tu dòng thánh Clara thuộc bao nhiêu Đan viện ở Assisi và trên thế giới, các vị bày tỏ vui mừng và biết ơn vì quyết định của ĐTC Biển Đức 16 trở lại Assisi vào ngày 27-10 tới đây.

Sau khi nhắc đến tấm gương, chứng tá và sứ điệp của thánh Phanxicô Assisi, thông cáo khẳng định rằng: “Thế giới chúng ta vẫn còn bị nhiều chiến tranh và không thiếu những thái độ cuồng tín và bất bao dung, cả nơi các nhóm tín hữu thuộc nhiều tôn giáo khác nhau. Cần phải mạnh mẽ kêu lên rằng kinh nghiệm tôn giáo chân chính luôn có một tâm hồn và một sứ điệp hòa bình. Khởi hành từ thập giá Chúa Kitô, thánh Phanxicô và Clara làm chứng tá rạng ngời về điều đó.”

“Vì thế, chúng tôi cầu mong rằng sẽ có rất nhiều vị đại diện các tôn giáo nhận lời mời của ĐGH, như cách đây 25 năm, để cùng với ngài thực hiện một cuộc hành hương hòa bình và mang lại cho thế giới một tín hiệu hòa bình.”

“Giáo hội tại Assisi, với tất cả mọi thành phần của mình, đặc biệt là các tu sĩ Phanxicô thuộc hai Vương cung thánh đường Giáo Hoàng thánh Phanxicô và Đức Mẹ các Thiên Thần, một lần nữa chúng tôi tiếp đón biến cố, vui mừng chào đón họ. Các con cái nam nữ của Thánh Phanxicô và Clara rải rác trên thế giới sẽ tham dự một cách nào đó, ít là trong tinh thần, vào cuộc hành hương lý tưởng này.

“Chúng tôi cầu mong rằng 'tinh thần Assisi', hiểu như thế, sẽ tiếp tục chiếu sáng mạnh mẽ, với những sáng kiến đặc biệt để nhắc nhớ và linh hoạt tại Thành của thánh Phanxicô, biến nơi này thành một biểu tượng và một phòng thí nghiệm hòa bình. Chúng tôi quyết tâm đóng góp một cách hăng say nhất sự nâng đỡ và chứng tá cho mục đích này”. (SD 2-4-2011)

G. Trần Đức Anh, OP

Cần Tận Dụng Và Tạo Cơ Hội Truyền Giáo

Là người môn đệ Đức Giêsu, chắc hẳn ai cũng có một mong muốn là làm cho người chưa tin nhận Chúa trở thành môn đệ của Người. Muốn thì muốn vậy, nhưng thực tế thì lại rất ít người biết tận dụng những cơ hội tốt để thu phục người ta thành môn đệ của Đức Giêsu; chưa tận dụng hết những cơ hội tốt thì làm sao tạo cớ để loan báo Tin Mừng.

Trong giới hạn của bài này, người viết xin nêu ra một số điểm trong đề tài “Cần tạo cơ hội truyền giáo” khởi đi từ gợi hứng của đoạn trích sách Tin Mừng theo thánh Gioan (4,1-30.39-42).[1] Bài viết được phân tích từ kinh nghiệm thực tế trong khi hướng dẫn giáo dân đi truyền giáo theo các phương pháp truyền giáo dựa trên Kinh Thánh nhằm giúp người đọc nắm được những điểm chính: làm như thế nào để tìm cớ tiếp cận người ta (1), mục đích của việc tiếp cận người ta là để làm gì (2), sau khi đã tiếp xúc được người ta thì cần tiến đến việc cảm hoá (3), mỗi một khi người ta đã được cảm hoá thì họ sẽ trở thành những nhà truyền giáo đắc lực (4).

1. Tìm cớ để tiếp cận

1.1. Bối cảnh

Trước khi phân tích những cách tiếp cận, xin trích đoạn về bối cảnh của việc Chúa Giêsu tìm cớ để tiếp cận với người phụ nữ Samari.

“Nhóm Pha-ri-sêu nghe tin Đức Giê-su thâu nạp và làm phép rửa cho nhiều môn đệ hơn ông Gio-an. (Thực ra, không phải chính Đức Giê-su làm phép rửa, nhưng là các môn đệ của Người). Biết thế, Đức Giê-su bỏ miền Giu-đê mà trở lại miền Ga-li-lê. Do đó, Người phải băng qua Sa-ma-ri. Vậy, Người đến một thành xứ Sa-ma-ri, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cóp đã cho con là ông Giu-se. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (Ga 4,1-6).

1.2. Sự việc tại bờ giếng ông Giacóp

Tiếp theo dưới đây, chúng ta theo dõi tiếp đoạn trích nói về sự việc xảy ra tại bờ giếng Giacóp giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari.

“Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Đức Giê-su nói với người ấy: "Chị cho tôi xin chút nước uống! " Lúc đó, các môn đệ của Người đã vào thành mua thức ăn. Người phụ nữ Sa-ma-ri liền nói: "Ông là người Do-thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? " Quả thế, người Do-thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri. Đức Giê-su trả lời: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: "Cho tôi chút nước uống", thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống." Chị ấy nói: "Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy." Đức Giê-su trả lời: "Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời." (Ga 4,7-14).

1.3. Khoảng cách khác biệt

Sau khi đã nắm được sự việc tại bờ giếng Giacóp, chúng ta sẽ phân tích những dữ kiện ở trong đoạn trích. Chúa Giêsu, sau một chặng đường dài vất vả, mệt mỏi và khát nước, nên phải đi xin nước uống. Khi Chúa Giêsu xin người phụ nữ Samari nước uống, chính người phụ nữ này nói cho biết: "Ông là người DoThái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, cho ông nước uống sao? " Quả thế, người Do Thái không được giao thiệp với người Sa-ma-ri.” Người phụ nữ cho chúng ta biết khoảng cách khác biệt trong suy nghĩ và hành xử giữa người Do Thái và người Samari là rất lớn.

1.3.1. Khác biệt về tôn giáo

Người Do Thái có một mối thù nghịch và khinh bỉ đối với người Samari, vì đối với người Do Thái không thể thờ thần nào khác ngoài Thiên Chúa của các Tổ Phụ; thế mà ở đây người Samari lại thờ hết thần này đến thần khác, cụ thể là năm vị thần.[2]

Sau khi bị thất thủ vào năm 721 (trước Chúa Cứu Thế), miền đất Samari bị năm dân ngoại xâm chiếm; năm dân đó khi đến ở lẫn lộn với dân Samari thì họ cũng mang theo năm vị thần của họ vào đất Samari luôn. Do đó, người Samari chịu ảnh hưởng về tôn giáo của dân ngoại, thờ cả các thần của dân ngoại. Chính vì lý do đó, giữa người Do Thái và người Samari có khác biệt rất lớn về tôn giáo.

1.3.2. Khác biệt về chính trị và văn hoá

Người Samari tôn thờ Thiên Chúa tại núi Gơridim, như thế Gơridim trở thành trung tâm tôn giáo, và do đó cũng là trung tâm chính trị và văn hoá của họ; còn người Do Thái lấy Giêrusalem làm trung tâm tôn giáo, ngoài ra còn là trung tâm chính trị và văn hoá nữa. Cũng vì lý do đó, nên khoảng cách về chính trị và văn hoá giữa hai bên cũng khá lớn.[3]

1.3.3. Khác biệt về cách hành xử

Từ những khác biệt về tôn giáo, chính trị và văn hoá lại đưa đến sự phân biệt đối xử trong đời sống hằng ngày. Người Do Thái không thể vượt qua rào cản tôn giáo, chính trị và văn hoá để đến với người Samari bình thường như gặp ông này ông kia, thì lại càng không thể gặp nói chuyện với một người phụ nữ. Gặp phụ nữ và nói chuyện ở nơi công cộng, người đàn ông Do Thái đã không được phép, ở đây là người phụ nữ Samari thì lại càng không được phép hơn. Nhưng Chúa Giêsu đã làm một cuộc đột phá, một cuộc cách mạng.

1.4. Đột phá

1.4.1. Đột phá trong suy nghĩ

Chúa Giêsu suy nghĩ thật táo bạo. Người suy nghĩ không dựa trên những nguyên tắc hay tiêu chuẩn của con người có quyền có chức trong xã hội để bắt nạt những người thấp cổ bé miệng. Người suy nghĩ cũng không dựa trên thành kiến tôn giáo, văn hoá hay chính trị để đẩy con người vào thế bế tắc cùng đường. Nhưng, Người suy nghĩ dựa trên tiêu chuẩn của tình thương, công bằng, phẩm giá và cùng đích của con người.[4] Quả thật, Người đã làm một cuộc đột phá trong suy nghĩ.

1.4.2. Đột phá trong hành động

Từ suy nghĩ táo bạo, nên Chúa Giêsu mới dám hành động một cách táo bạo. Chúa Giêsu, khi dám đến với người phụ nữ Samari để gặp gỡ nói chuyện, là Chúa đã dám xoá bỏ cái rào cản ngăn cách về tôn giáo, chính trị và văn hoá giữa người Do Thái và người Samari. Chúa Giêsu, khi dám tiếp xúc nói chuyện với người phụ nữ mà lại là người phụ nữ Samari ở nơi công cộng, là Chúa đã dám gỡ bỏ sự phân biệt và kỳ thị trong cách cư xử với con người. Quả thật, Chúa Giêsu đã làm một cuộc đột phá cả trong hành động nữa.

1.5. Kiếm cớ để làm quen

Đọc kỹ đoạn Tin Mừng này (Ga 4,7-14), chúng ta thấy Chúa Giêsu khát nước, đến xin người phụ nữ Samari nước để uống; nhưng lại không thấy Người lấy nước mà cũng chẳng thấy Người uống nước. Thật kỳ lạ! Kỳ lạ ở chỗ là xin nước nhưng lại không lấy nước; khát nước nhưng lại không uống nước; xin không phải để được cho, nhưng xin là để cho lại!

Chúa Giêsu xin nước có phải là để uống cho khỏi khát không? Có lẽ Chúa Giêsu xin người phụ nữ Samari nước uống không phải là để thoả cơn khát của mình, nhưng là để kiếm cớ hay tạo một cơ hội tiếp cận làm quen với chị ta.

1.6. Thử nêu một số câu hỏi

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta gặp biết bao con người, có những người rất quen, nhưng chúng ta lại không tận dụng cơ hội đó để tiếp chuyện với người ta. Tại sao chúng ta lại bỏ lỡ những cơ hội tốt đó để gặp gỡ, chia sẻ, tìm hiểu và cảm thông với người ta?

Có những người ở gần chúng ta, có những người đối mặt với chúng ta hằng ngày; nhưng chúng ta lại không hề quen biết họ, chúng ta không hề biết họ tên gì, làm nghề gì, gia đình họ ra sao. Tại sao chúng ta không kiếm một cái cớ để tiếp cận làm quen người ta? Muốn truyền giáo, nhưng chúng ta không tiếp cận làm quen người ta thì làm sao mà truyền giáo được?[5]

Trong cuộc sống hằng ngày, dù làm bất cứ nghề gì và ở trong cương vị nào thì cũng có rất nhiều cơ hội tốt để gặp gỡ người ta, để tiếp cận người ta, để làm quen người ta; và cũng có rất nhiều cách để kiếm cớ tạo dịp tiếp cận người ta? Nguyên nhân vì sao chúng ta lại không dám làm? Vì sao chúng ta lại không can đảm xoá bỏ những rào cản ngăn cách giữa chúng ta với họ? Vì sao chúng ta không chủ động và khiêm nhường đến với họ trước?

Truyền giáo được hay không, điều đó trước hết phụ thuộc vào cung cách hành xử của chúng ta với những người chúng ta gặp gỡ và tiếp xúc hằng ngày![6]

2. Mục đích của việc tiếp cận[7]

2.1. Tiếp cận để gặp gỡ

Dù có những khác biệt và cấm cản khó khăn về tôn giáo, chính trị, văn hoá và xã hội giữa người Do Thái và Samari, nhưng Chúa Giêsu vẫn can đảm và chủ động đến gặp người phụ nữ Samari. Người hạ cố không chỉ đến để gặp gỡ và nói chuyện, mà còn khiêm nhường hết mức là đến xin nước: "Chị cho tôi xin chút nước uống!" Mục đích mà Chúa Giêsu tiếp cận người phụ nữ Samari là để gặp gỡ. Rồi qua việc gặp gỡ, Chúa Giêsu tiến lên một bước nữa là đối thoại.

2.2. Gặp gỡ để đối thoại

Khi đã tiếp cận được rồi, Chúa Giêsu lại từ câu chuyện trước mắt là “xin nước” để bắt sang chuyện “nước hằng sống”. Chúa Giêsu đã gợi cho người phụ nữ thèm khát nước hằng sống khi nói: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống." Nước hằng sống mà Chúa Giêsu nói không như nước giếng ông Giacóp. Nếu "ai uống nước này, sẽ lại khát”; nhưng nếu ai uống nước Chúa Giêsu “cho, sẽ không bao giờ khát nữa”. Và nước Chúa Giêsu “cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời."

Câu chuyện trong khi đối thoại mà Chúa Giêsu đưa ra cũng thật là gần gũi với cuộc sống thường ngày của con người là nước uống. Cách Chúa Giêsu gợi chuyện thật ấn tượng làm cho người đối thoại với mình dễ hiểu.

Qua cách gợi chuyện và tiếp chuyện của Chúa Giêsu, chúng ta thấy đối thoại quan trọng dường nào trong sứ vụ loan báo Tin Mừng. Không thể có việc truyền giáo, nếu không chân thành, cởi mở và tôn trọn trong khi đối thoại với người ta. Đó là kinh nghiệm rõ ràng trong lịch sử truyền giáo trải qua các thời kỳ.[8]

2.3. Đối thoại để hiểu biết

Qua những câu chuyện trao đổi giữa hai người, sự đối thoại giúp cho hai người hiểu biết về nhau nhiều hơn. Người này biết hoàn cảnh của người kia; người kia nắm bắt được tông tích của người nọ.

Quả thật sẽ không có hiểu biết lẫn nhau nếu không có đối thoại chân thành. Trong việc loan báo Tin Mừng, đối thoại là rất quan trọng; nhưng đối thoại cần phải đưa đến hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn; có như thế mới tiến xa hơn được.

2.4. Hiểu biết để cảm thông

Chúa Giêsu xin nước, nhưng lại không uống cho khỏi cơn khát. Xin nước mà lại không lấy nước, nhưng lại cứ lân la nói chuyện, một cách đối thoại rất cởi mở với những cái rất gần gũi với cuộc sống con người. Qua “nước uống hằng ngày”, Chúa Giêsu nói đến “nước hằng sống”: “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời." Người phụ nữ, sau khi được Chúa Giêsu nói tới nước hằng sống, liền xin: "Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước." Người phụ nữ xin nước, nhưng Chúa lại bắt sang chuyện chồng chị ta: "Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây." Giữa việc xin nước và chồng chị ta có quan hệ gì đâu, thế thì tại sao Chúa lại hỏi về gia cảnh của chị. Người phụ nữ đáp: "Tôi không có chồng." Rồi Chúa Giêsu bảo chị ta: "Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng." Người phụ nữ nói với Chúa Giêsu: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ.” Đến đây, Chúa Giêsu hiểu rõ hoàn cảnh của chị và cũng rất cảm thông với chị. Qua cách đối thoại cởi mở và chân thành của Chúa Giêsu, người phụ nữ cảm thấy tin tưởng và thoải mái bộc lộ những uẩn khúc trong cuộc đời của chị.

2.5. Cảm thông để chia sẻ

Chúa Giêsu đã làm một cuộc đảo lộn thật ngoạn mục, đó là Người đã làm cho người phụ nữ Samari thèm thứ nước mà Người nói tới, nước hằng sống. Người phụ nữ Samari không lấy nước để cho người đang xin mình nước, nhưng lại xin nước từ người xin mình: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước." Tuyệt vời quá!!! Nếu người ta không cảm thông được với nhau, thì người ta không thể nào cởi mở bày tỏ nỗi lòng cho nhau được. Khi đã cảm thông, người ta dễ dàng chia sẻ những gì mình có cho nhau. Quả thật, người phụ nữ bước đầu thì ái ngại, nhưng sau khi đã được Chúa Giêsu cảm thông, mạnh dạn ngỏ lời xin Chúa Giêsu nước hằng sống.

2.6. Chia sẻ để chữa lành

Sau khi nghe người phụ nữ Samari nói về gia cảnh của mình, Chúa Giêsu đã đoán trúng bệnh. Tìm được triệu chứng bệnh rồi, Chúa Giêsu mới cho thuốc; nhờ thế, bệnh nhân mới được chữa khỏi. Chúa Giêsu quả là một người thầy thuốc lão luyện, đầy kinh nghiệm; hơn thế nữa, còn là một nhà tâm lý uyên thâm, đoán trúng tâm lý người ta đến nỗi người phụ nữ phải tâm phục khẩu phục: "Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ.” Những câu đối thoại tiếp theo là cách Chúa Giêsu cho người phụ nữ thuốc để chữa căn bệnh nơi chị. Và quả thật, chị đã được Chúa chữa lành những vết thương, những uẩn khúc và những căn bệnh trong cuộc đời của chị bằng một thang thuốc đặc trị.

2.7. Tại sao và tại sao?

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta gặp gỡ rồi quen biết bao nhiêu người, nhưng gặp chỉ để gặp gỡ, quen chỉ để mà quen biết. Người môn đệ không thể dừng lại ở đó, nhưng phải tiến tới một bước nữa là cảm hoá người ta, hay nói cách khác là nói cho người ta biết Chúa là ai, và cuối cùng là làm cho người ta thành môn đệ của Chúa. Thực tế chúng ta lại ít khi ý thức việc đó, tại sao và tại sao? Tại sao chúng ta không tiến một bước nữa? Tại sao chúng ta không mạnh dạn từ những cuộc gặp gỡ, đối thoại đó đưa đến một dấn thân mới là làm cho người ta khao khát tìm đến với Chúa Giêsu, Đấng cứu độ trần gian?

3. Từ tiếp cận đến cảm hoá

3.1. Từ hiểu biết đưa đến chấp nhận

Sau cuộc gặp gỡ và đối thoại với Chúa Giêsu, người phụ nữ Samari đi đến một quyết định quan trọng, làm thay đổi cuộc đời của chị. Chị đã được chữa lành, chị đã hiểu, chị đã tin và cuối cùng chị đón nhận người đang nói chuyện với chị là “Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô”. Từ đây, chị dám sống chết với Đấng Mêsia, Đức Kitô.

3.2. Từ chấp nhận đưa đến yêu mến

Sau khi đã đón nhận Chúa Giêsu như là vị ngôn sứ, chị đi đến một quyết tâm là đi trao ban Chúa Giêsu cho những người gần gũi nhất của mình, đó là những người trong thành Samari, đồng bào của chị, người thân của chị và bạn hữu của chị. Quyết tâm đi làm chứng cho Chúa Giêsu được thể hiện bằng cách “để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: "Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao? "(Ga 4,28-29).

4. Người tân tòng thành nhà truyền giáo

4.1. Một mẫu gương dấn thân truyền giáo

Kể từ đây, người phụ nữ Samari bắt đầu sống một đời sống mới là hết lòng làm cho người ta biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ của trần gian. Từ một người ngoại, sau khi đã theo Đạo, trở thành người truyền Đạo cho những người gần gũi nhất với mình.

4.2. Chứng nhân hơn thầy dạy

Có nhiều người Sa-ma-ri trong thành đó đã tin vào Đức Giê-su, vì lời người phụ nữ làm chứng: ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm. Vậy, khi đến gặp Người, dân Samari xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. Số người tin vì lời Đức Giê-su nói còn đông hơn nữa. Họ bảo người phụ nữ: "Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian." (Ga 4,39-42).

Theo lời người phụ nữ nói là “đến mà xem”, dân Samari đến xem Chúa Giêsu. Khi nghe và thấy tận mắt, người Samari đã đón nhận Đức Kitô là Đấng cứu độ trần gian. Họ tin “không còn phải vì lời chị kể”, nhưng là nhờ đã nghe và đã biết rằng “Người thật là Đấng cứu độ trần gian." Trong việc truyền giáo, chứng nhân là rất quan trọng, vì con người ngày nay cần những chứng nhân hơn là thầy dạy. Một nhà truyền giáo trước hết phải là một chứng nhân![9] Chúa Giêsu là một chứng nhân sống động đến nỗi khi gặp Người, dân Samari tin ngay. Đúng là “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sờ.”

4.3. Đã làm hết sức chưa?

Hằng năm, tại các giáo xứ nhất là tại các giáo xứ có đông người dự tòng, việc dạy giáo lý dự tòng được phó mặc cho một vài người. Có những giáo xứ, một năm có đến vài khoá giáo lý dự tòng với con số lên đến cả trăm người. Một vài người với ba hoặc sáu tháng dạy giáo lý cho người dự tòng thì thấm vào đâu! Nếu làm tốt công việc dạy giáo lý cho người dự tòng thì đã truyền giáo tốt rồi. Mỗi một người tân tòng khi đã hiểu sâu và tin vững vào Chúa, thì đương nhiên họ sẽ trở thành người truyền giáo cho gia đình, họ hàng, láng giềng và bạn bè của họ. Đó là một cách truyền giáo tốt. Nhưng trong thực tế, chúng ta đã bỏ quên, không tận dụng lấy cơ hội tốt đó! Tại sao lại không tận dụng cơ hội tốt đó để làm cho những người tân tòng thành những nhà truyền giáo? Một thực tế đang xảy ra phổ biến hầu hết tại những nơi có người dự tòng và tân tòng: khi dạy xong chương trình giáo lý cho người dự tòng trong một khoảng thời gian ngắn, thì công việc của giáo xứ, của cộng đồng cũng như của người dạy giáo lý coi như đã xong!!! Tại sao không có thời gian hậu dự tòng để giúp người tân tòng hiểu biết hơn Đạo Chúa, giúp họ sống vững tin hơn vào Chúa, và đồng thời dạy họ những phương pháp truyền giáo? Chúng ta không tạo cơ hội để truyền giáo thì chớ, đằng này cũng không biết tận dụng những cơ hội tốt để truyền giáo? Chúng ta có thiếu trách nhiệm không?

Thay lời kết

Người Việt có những câu như: “Miếng trầu là đầu câu chuyện”; “Vạn sự khởi đầu nan”; “Không có lửa làm sao có khói”; “Không có bột sao gột nên hồ”; “Không cày thì không có thóc”; “Không học thì không biết chữ”... Trong việc truyền giáo, nếu không có những cơ hội ban đầu thì làm sao có được kết quả sau này. Việc tạo cơ hội truyền giáo là rất quan trọng, có điều là mình có chịu tìm cách hay không. Tài liệu “Đối thoại và Rao truyền” của Hội Đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn cho chúng ta biết rằng để truyền giáo thì phải có tiếp cận, gặp gỡ; có tiếp cận, gặp gỡ thì mới có đối thoại; có đối thoại trong sự tôn trọng, cởi mở và chân thành thì mới có hiểu biết; có hiểu biết thì mới có niềm tin tưởng lẫn nhau; có tin tưởng thì mới có cảm thông và chấp nhận nhau. Cách tiếp cận, đối thoại rồi cảm hoá của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ Samari là một phương pháp truyền giáo tốt. Ước mong mỗi người môn đệ Chúa Giêsu biết tận dụng những cơ hội để truyền giáo và biết tạo nên những cơ hội để truyền giáo.

Fx.Trần Kim Ngọc, OP

-------

[1] Bản dịch Kinh Thánh xin được trích dẫn theo Bản dịch Tiếng Việt do Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ thực hiện được đăng trên www.thanhlinh.net/thanhkinh.

[2] Xc. Chân Ngôn – Chú giải Tin Mừng các Chúa Nhật và đại lễ - năm A, Học Viện Đa Minh, 2011, tr. 104-119.

[3] Xc. Tanila Hoàng Đắc Ánh, Dẫn nhập và chú giải Tin Mừng theo thánh Gioan, Sài Gòn, 1999, tr. 117-128.

[4] Xc. Ga 3,16-21; Mt 23…

[5] Xc. Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, Đối thoại và Rao truyền, bản dịch Việt ngữ do Nguyễn Đăng Trúc thực hiện. Truy cập 28.03.2011; tại: http://www.conggiaovietnam.net/upload/article/f__1281533299.htm. Bản Anh ngữ: Pontifical Council for Inter-Religious Dialogue, Dialogue and Proclamatio; http://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/interelg/documents/rc_pc_interelg_doc_19051991_dialogue-and-proclamatio_en.html

[6] Xc. Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, Sđd.

[7] Xc. Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, Sđd.

[8] Xc. Hội Đồng Giáo Hoàng Đặc Trách Đối Thoại Liên Tôn, Sđd.

[9] Xc. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi (Tông huấn Loan báo Tin Mừng), số 41.

Tòa Thánh quyết định tăng cường việc học Triết trước khi học Thần học

VATICAN. Hôm 22-3-2011, Bộ giáo dục Công Giáo đã công bố nghị định cải tổ việc học triết trong chương trình học đạo: từ 2 năm được tăng thành 3 năm trước khi học thần học.

ĐHY Zenon Grocholewski, Tổng trưởng Bộ giáo dục Công Giáo, cùng với vị Tổng thư ký là Đức TGM Jean Louis Brugès O.P và Cha Charles Morerod O.P, Viện trưởng Giáo Hoàng đại học thánh Tomaso Aquino ở Roma, đã mở cuộc họp báo tại Phòng Báo chí Tòa Thánh để giới thiệu nghị định mới.

Read more...

CẢM THƯƠNG

Trước hoàn cảnh khốn khổ của người khác, nếu chúng ta cảm nhận được sự khốn khổ của họ bằng tình thương xót của ta, thì đó là cảm thương. Ta đau cái đau của họ. Ta khổ cái khổ của họ. Ta và họ có sự đồng cảm. Sự đồng cảm là một tình thương liên đới. Tình thương liên đới ấy có những rung cảm trong tim. Cả đến ruột gan nhiều khi cũng bị chấn động.

Cảm thương như thế là một phản ứng lành mạnh của con người lành mạnh.

Cảm thương như thế là một giá trị đạo đức.

Cảm thương như thế là một tiếng gọi của Chúa giàu lòng thương xót.

Để biết đáp lại tiếng gọi ấy, chúng ta nên nhớ lại những cách Chúa đã thực hiện để cảm thương nhân loại.

1. Cảm thương, nên cùng chịu chung thân phận

Sự cảm thương đầu tiên mà Chúa mạc khải cho chúng ta thấy là, sự Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế, mặc lấy thân phận con người.

"Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ ở giữa chúng ta" (Ga 1,14).

"Người sống trọn thân phận con người như chúng con, chỉ trừ tội lỗi" (Kinh Tiền Tụng CN VII TN).

Hơn nữa, "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.

"Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá" (Pl 2,6-8).

Tác giả thư gởi Do Thái viết: "Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội" (Dt 4,15).

Tự ý từ bỏ cuộc sống vinh quang, để cùng chịu chung thân phận hèn hạ khổ cực của con người, đó là một cách cảm thương, mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô.

2. Cảm thương, nên giải cứu con người khỏi khổ đau

Một phần đáng kể của bốn Phúc Âm là thuật lại sự Chúa Giêsu cảm thương trước cảnh khổ đau của con người, nên đã giải cứu họ.

"Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh tật của họ" (Mt 14,14).

Gặp hai người mù tại Giêrikhô, "Đức Giêsu chạnh lòng thương, sờ vào mắt họ. Tức khắc, họ nhìn thấy được và đi theo Người" (Mt 20,34).

Gặp đám tang người con trai của một bà goá thành Naim: "Chúa Giêsu trông thấy bà, liền chạnh lòng xót thương. Chúa nói: Bà đừng khóc nữa. Rồi Ngài lại gần, chạm vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: Hỡi người thanh niên, tôi bảo anh, hãy chỗi dậy. Người chết liền ngồi dậy và bắt đầu nói" (Lc 7,13-19).

Khi thuật lại phép lạ Chúa cho ông Ladarô sống lại, thánh Gioan viết: "Lòng Người thổn thức và xao xuyến" (Ga 11,33) và "Đức Giêsu đã khóc" (Ga 11,35).

Khi thấy đám đông không có gì ăn. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường" (Mt 15,32). Rồi, Đức Giêsu đã làm phép lạ lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá để nuôi hơn bốn ngàn người (x. Mt 34,39).

Khi các kinh sư và người Pharisêu bắt một người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến trước Chúa Giêsu. Họ nói với Người là theo luật Maisen, người phụ nữ đó phải bị ném đá cho chết, Chúa Giêsu đã tìm cách cứu người phụ nữ đó vừa khỏi bị ném đá vừa khỏi tội. Chúa Giêsu cứu một cách nhẹ nhàng. Sau cùng Chúa nói với người phụ nữ đó một lời cũng rất dịu dàng: "Không ai lên án chị sao. Tôi cũng vậy. Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa" (x. Ga 8,3-11).

Chúng ta thấy tấm lòng Chúa Giêsu dạt dào tâm tình cảm thương. Cảm thương ấy được diễn tả bằng việc giải cứu những người khổ đau.

3. Cảm thương, nên chịu đau khổ thay

Chúa Giêsu phán: "Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,15). Sự hy sinh mạng sống mình của Chúa Giêsu đã được tiên tri Isaia diễn tả tỉ mỉ như sau: "Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong, đáng chúng ta nhìn ngắm. Dung mạo Người chẳng còn gì đáng chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mầm bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

"Sự thật, chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta...

"Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Người đã chịu sửa để chúng ta được bình an" (Is 53,3-5).

Kinh cầu "Chịu nạn" hồi xưa có một chuỗi dài kể ra những đau đớn Chúa Giêsu chịu trong cuộc thương khó. Sau mỗi câu kể lại, là lời "vì tội chúng tôi". Kẻ đọc người nghe nhận ra thấm thía ý nghĩa sự thương khó Chúa chính là để đền tội chúng ta.

***

Trên đây là một thoáng nhìn về vài cách Chúa cảm thương con người chúng ta. Nên nhìn và suy gẫm. Tất cả đều có liên quan đến chúng ta. Chúa ở trước mặt chúng ta. Mỗi người chúng ta nên đặt trước Chúa những tâm tình của mình.

Trước hết chúng ta cảm tạ Chúa đã cảm thương chúng ta. Chúng ta nhận ra những cảm thương đó. Đúng thực là Chúa đã cùng chịu đau khổ với chúng ta. Đúng là Chúa đã giải cứu chúng ta. Đúng là Chúa đã đền tội thay cho chúng ta. Chúng ta nhận ra những sự thực đó trong những trường hợp cụ thể của đời mình.

Cùng với việc cảm tạ Chúa, chúng ta không quên nhớ ơn nhiều người đã cảm thương chúng ta. Họ đã cùng chúng ta chịu khổ. Họ đã giải cứu ta. Họ đã đền tội cho ta.

Nhìn sang Hội Thánh, chúng ta ca ngợi Chúa vì bao người con Chúa đã theo gương Chúa mà cảm thương những người đau khổ. Họ đã chia sẻ thân phận với người đau khổ. Họ đã giải cứu người đau khổ. Họ đã đền tội thay cho người đau khổ.

Bên cạnh những việc cảm tạ, nhớ ơn và ca ngợi, chúng ta đừng quên sám hối. Trong bổn phận cảm thương, chúng ta đã có những thiếu sót, những lỗi lầm, những tội phạm. Chúa đã nói rất rõ: "Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi không làm điều tốt cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta" (Mt 25,45).

Sau cùng, chúng ta cầu xin Chúa thương đổi mới trái tim ta. Đừng để nó chai cứng, vô tâm, nhẫn tâm, nhưng xin cho nó trở nên tế nhị, nhạy bén, đầy tình cảm thương. Chúng ta không những cầu xin, mà chúng ta cũng còn có bổn phận phải đào tạo chính mình ta và những người thuộc về ta. Đào tạo nên những người biết cảm thương theo gương Chúa.

Thời sự hiện nay đầy những thảm hoạ gây chết chóc, đổ nát, hỗn loạn, sợ hãi lo âu. Cả thế giới bàng hoàng, sống tình liên đới. Nếu chẳng may có những người công giáo và những tập thể trong Hội Thánh vẫn dửng dưng, chỉ biết lo cho mình, không chịu điều chỉnh cuộc sống mình sao cho liên đới với những cảnh khổ của bao người xung quanh, thì sẽ là rất phản chứng. Thời nay phản chứng trong lãnh vực cảm thương sẽ rất hại cho danh dự bản thân và cho uy tín của đạo.

Lạy Chúa, xin thương giải cứu chúng con khỏi những sai lầm trong việc làm chứng cho lòng thương xót Chúa.

+ Gm. Gioan B. Bùi Tuần

Hành Đạo

Chúng ta đừng hỏi cộng đoàn đã giúp gì cho chúng ta, nhưng tự hỏi chính mình, chúng ta đã cống hiến được gì cho sự phát triển của cộng đoàn.

Abraham nói: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao? Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơđôm” (St 18,32).

Tổ phụ Abraham đã nài xin Chúa tha phạt cho hai thành Xơđôm và Gômôra. Abraham đã trả giá với Chúa: Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chúa sẽ không phạt họ: "Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó” (St 18,26). Abraham đã rút bớt dần tới con số 10 người: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm” (St 18,32).Trong hai thành phố chỉ cần kiếm được 10 người tốt lành, Thiên Chúa sẽ không phạt cả thành.

Chúng ta sống là sống cùng và sống chung với người khác. Con người có tính hợp quần xã hội. Mỗi gia đình là một đơn vị nhỏ, đơn vị nhỏ kết thành nhóm hội và những nhóm nhỏ kết hợp trở thành những cộng đoàn lớn. Chúng ta là những thành viên xây dựng nên cộng đoàn. Sống tinh thần tương trợ, đoàn kết lẫn nhau là một mời gọi khẩn thiết để bảo trì truyền thống văn hóa và hạt giống niềm tin. Trong thế giới hội nhập, chúng ta nhận ra có nhiều giá trị khác biệt trong các nền văn hóa. Sống trong xã hội muôn mầu, muôn dạng, chúng ta không thể sống co cụm, đóng khung và tách biệt khỏi dòng sống cộng đồng nhân loại. Lời cổ nhân: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Giao lưu văn hóa giúp chúng ta mở rộng kiến thức và hội nhập đời sống. Giữ lấy cái tốt của mình và học cái hay của người.

Trong đời sống đạo cũng thế, mọi người trong cộng đoàn giáo xứ có cùng chung một đức tin, một niềm hy vọng và một cùng đích. Tuy dù khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc và truyền thống nhưng chúng ta vẫn có thể chia sẻ với mọi người các giờ kinh phụng vụ, giờ cầu nguyện và cử hành thánh lễ. Mỗi thành viên trong giáo xứ đều có trách nhiệm và bổn phận góp phần xây dựng, bảo trì và thăng tiến cuộc sống chung của Giáo Hội. Không riêng người Việt Nam, hiện nay trên thế giới mở rộng sự di dân lan tràn khắp các quốc gia. Các nhóm dân tộc hòa đồng chung sống và cùng nhau kiến tạo một cuộc sống xã hội tốt đẹp hơn. Sau hơn 30 năm sống trên xứ người, chúng ta có rất nhiều kiểu mẫu cộng đoàn đã được thành lập. Có những cộng đoàn công giáo tách riêng, tự tạo cho mình một hướng đi, một cuộc sống tự lập riêng rẽ và bảo trì các sinh hoạt riêng. Có những cộng đoàn hòa nhập, liên kết với chương trình sinh hoạt chung và trở nên thành phần của giáo xứ. Có những cộng đoàn giữ được cả hai là vừa sinh hoạt với Giáo xứ vừa giữ những truyền thống đặc biệt của riêng mình. Mỗi kiểu mẫu cộng đoàn đều có những điểm tích cực và tiêu cực riêng.

Để giúp một cộng đoàn sinh hoạt sống động và hiệu qủa, chúng ta cần gắn kết với nhau trong mọi hoạt động thường ngày. Một cộng đoàn muốn phát triển tốt phải có các cộng tác viên đắc lực thường xuyên. Chúng ta thử suy nghĩ về bản thân mình, nếu muốn sống tốt và sống khỏe, chúng ta cần phải sinh họat, ăn uống, tập tành mỗi ngày. Ngày nào cũng phải ăn uống điều độ nhưng lâu lâu thêm vào những bữa tiệc thịnh soạn và những tụ họp tiệc tùng. Bữa ăn đơn sơ thường xuyên hằng ngày do vợ chồng nấu dọn mới là quan trọng. Của ăn hằng ngày sẽ nuôi dưỡng con người cả về tinh thần lẫn thể xác. Chính đây mới là chìa khóa của niềm vui và hạnh phúc.

Chúng ta đang sống trong đất nước tự do, đương nhiên chúng ta có quyền chọn lựa cách sống riêng của mình. Về cách hành đạo, không ai có quyền đòi hỏi chúng ta phải cộng tác, gom góp hay phải làm việc này việc kia. Nhưng khi chúng ta tự nguyện liên kết với nhau trở thành một cộng đoàn, mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm liên đới với nhau. Việc sống đạo và hành đạo là do tấm lòng yêu mến của mỗi người. Có người nói rằng họ thích sống và chơi với người ngoại quốc hơn là người Việt Nam. Đây là quyền tự do chọn lựa của mỗi người. Chúng ta biết mà trăm người trăm ý. Nhưng tục ngữ ca dao cũng nói: Có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống trên đất khách quê người, chúng ta còn cần nương tựa nhau nhiều hơn nữa. Không chỉ vấn đề giao tế, công ăn việc làm mà còn cần đến tình người, tình đồng hương. Khi hữu sự chúng ta sẽ cần đến nhau để tìm sự nâng đỡ và chia sẻ.

Chúng ta nghĩ thế nào về sinh hoạt cộng đoàn, nếu mỗi năm chúng ta chỉ đi tham dự vài lần vào các dịp chính như lễ Giáng Sinh, Lễ Tết Nguyên Đán, Lễ Quan Thầy, Lễ Phục Sinh… Làm sao cộng đoàn có thể sống còn được qua những ngày mùa Đông tuyết giá lạnh lẽo hoặc những ngày mùa Hè oi bức nóng nảy. Quanh năm suốt tháng chúng ta cứ tìm đến những nhà thờ tiện nghi, gần gũi và thông thoáng để tham dự phụng vụ. Hằng năm chúng ta chỉ  tham dự những lễ lớn đông người có tổ chức tiệc tùng, văn nghệ, hát xướng và sinh họat, có khác gì một năm chúng ta chỉ đi dự những bữa tiệc lớn. Làm sao chúng ta có thể phát triển tốt được nếu không có những bữa tiệc nho nhỏ hằng ngày.

Nhìn vào mọi sinh hoạt của giáo xứ, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một tổ chức nào cũng cần có những người nồng cốt. Nhóm nồng cốt sinh hoạt năng động, thường xuyên, trung tín và nhiệt tình. Nhóm này được kể như: Giả như tìm được mười người thì sao? "Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm.” Có những việc rất ý nghĩa xảy ra hàng ngày ngay bên mà đôi khi chúng ta không nhận ra. Có những anh chị em tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm phục vụ không công cho cộng đoàn ngày này qua tháng nọ. Có các thầy cô giáo hy sinh thời giờ để hướng dẫn và dậy dỗ các con em. Các ca trưởng và ca viên hy sinh tập dượt để hát xướng phục vụ trong thánh lễ và cộng đoàn thường xuyên. Các thiện nguyện viên trong các ban ngành đoàn thể giúp sắp xếp, lau dọn và giữ trật tự hằng tuần. Có những việc không tên nho nhỏ nhưng thường xuyên đòi sự cố gắng hy sinh, nhiệt tâm và nhiệt tình làm cho cộng đoàn sống.

Một việc rất ý nghĩa là sự cộng tác của các em giúp lễ. Việc tuy đơn sơ nhưng góp phần tích cực cho việc cử hành phục vụ cách nghiêm trang và cung kính. Xứ tôi giúp, có nhiều em giúp lễ nhưng đặc biệt có hai cô, Dhariana bắt đầu giúp lễ khi còn học ở trường Trung học, nay đã ra trường Đại học và Sherry Ann sắp ra trường Cao học. Hằng tuần hai cô vẫn đến giúp lễ vui vẻ và giúp một cách trân trọng. Có lẽ các cô làm vì lòng yêu mến phục vụ và hưởng nếm sự gần gũi hơn trên cung thánh. Hoặc nhìn qua ca đoàn, số ca viên không đông lắm nhưng có số tuổi từ 15 đến 70 tuổi. Họ cùng tập và cùng chung lời ca tiếng hát phụng sự Chúa. Quả là hoa trái tốt đẹp. Thánh lễ mỗi tuần đều cần có ca đoàn hát xướng để tạo bầu khí cầu nguyện và mang lại sự sinh động phấn khởi cho mọi người. Nếu các ca viên chỉ chờ đến dịp lễ lớn mới đi tập hát thì suốt mùa quanh năm ai sẽ phục vụ đây.

"Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm”. Chúa sẽ tha cả thành nếu tìm được 10 người. Trong mỗi cộng đoàn còn có biết bao người đang hy sinh âm thầm cầu nguyện mỗi ngày. Những cụ ông, cụ bà già cả liệt lào không đến nhà thờ được vẫn có thể giúp sức cho cộng đoàn qua lời cầu nguyện. Chúng ta biết trong Giáo Hội có nhiều dòng tu chiêm niệm, các tu sĩ nam nữ dành cả cuộc đời trong nhà Kín để ăn chay và cầu nguyện cho các sinh họat của Giáo Hội. Những cụ già sống tại gia sẽ trở thành nguồn sống cho cộng đoàn giáo xứ qua lời cầu nguyện của mình. Các cụ có thể dâng lên Chúa những buồn bực, khổ đâu, cô đơn và chán chường. Đây sẽ là những hạt kinh thiêng liêng đẹp lòng Chúa . Nếu mỗi cộng đoàn giáo xứ có được những cụ già miệt mài trong đền thánh Chúa cầu nguyện cho con cái cháu chắt và mọi người thì tốt đẹp biết bao. Mẫu gương nguyện cầu của ông Simêon đã đón nhận và được ôm ẵm Chúa Hài Nhi (Lc 2,28) và bà Anna trọn đời sống thủ tiết ở trong đền thờ cầu nguyện (Lc 2,36).

Mỗi người chúng ta có tên trong số 10 người mà tổ phụ Abraham đã kỳ kèo với Chúa. Chúng ta đừng trao trách nhiệm cho người khác sống đạo giùm, nhưng mỗi người hãy góp công sức và nhất là góp mặt với nhau để cùng xây dựng cộng đoàn giáo xứ tốt đẹp hơn. Chúng ta đừng hỏi cộng đoàn đã giúp gì cho chúng ta, nhưng tự hỏi chính mình, chúng ta đã cống hiến được gì cho sự phát triển của cộng đoàn. Cộng đoàn giáo xứ càng phát triển tốt mỗi người chúng ta càng được thừa hưởng những ân huệ và hoa trái tốt. Ước chi mỗi thành viên trong cộng đoàn liên kết với nhau trong yêu thương để phục vụ và đem niềm an vui hạnh phúc đến cho mọi người.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng - Bronx, New York

Thư chung Mùa Chay 2011 của Đức Giám mục Giáo phận Xuân Lộc

Kính gửi: Quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, các Chủng sinh và Anh Chị Em giáo dân giáo phận Xuân Lộc

Anh Chị Em rất thân mến trong Chúa Kitô,

Cùng với Giáo Hội hoàn vũ, chúng ta bước vào Mùa Chay, thời gian thống hối ăn năn và canh tân cuộc sống để chuẩn bị đón mừng Đại lễ Chúa Phục Sinh, Đấng chiến thắng sự chết để đem lại sự sống mới cho nhân loại. Để trợ lực cho hành trình canh tân cuộc sống, theo truyền thống của Giáo Hội, trong Mùa Chay chúng ta được mời gọi gia tăng một số công tác thiêng liêng: ăn chay - hãm mình, cầu nguyện và làm việc từ thiện, bác ái. Trong khi mời gọi mọi thành phần trong giáo phận khích lệ nhau dấn thân sống tinh thần Mùa Chay và thực hiện các công tác thiêng liêng như đã nói ở trên, tôi muốn chia sẻ với anh chị em một số yếu tố cần được để ý đặc biệt trong Mùa Chay Thánh năm nay, trong hoàn cảnh cụ thể của gia đình giáo phận chúng ta.

1. Trong tâm tình hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ

Trong sứ điệp Mùa Chay năm nay gửi toàn thể Giáo Hội, Đức Thánh cha Bênêđictô XVI đã đặc biệt nhấn mạnh đến mối liên kết giữa bí tích Rửa Tội và Mùa Chay, hay rõ hơn, chúng ta có thể nói là bí tích Rửa Tội được thể hiện bởi hành trình Mùa Chay vì “bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức trong quá khứ, nhưng là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô có khả năng soi chiếu tất cả cuộc sống của người được rửa tội, ban tặng đời sống thần linh và mời gọi biến đổi và canh tân cuộc sống cách chân thành đã bắt đầu và được đỡ nâng bởi Ơn Thánh để trở nên giống Chúa Kitô” (Sđ, số 1). Trong sứ điệp Mùa Chay, Đức Thánh Cha đã xác quyết dưới hình thức một câu hỏi: “Trong hành trình biến đổi và canh tân cuộc đời để cử hành mầu nhiệm Sống Lại của Chúa, còn gì thích hợp hơn việc để mình được dẫn dắt bởi Lời Chúa?” (Sđ, số 2) Tiếp theo đó, Đức Thánh Cha đã đưa ra những chỉ dẫn cho hành trình thiêng liêng dựa theo các bài Tin Mừng trong phụng vụ Lời Chúa của các ngày Chúa nhật Mùa Chay. Sau đây là hai điểm tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt cho hành trình Mùa Chay trong giáo phận chúng ta.

a) Chiến đấu nội tâm

Trong sứ điệp Mùa Chay, Đức Thánh Cha lấy mẫu gương của Chúa Giêsu đã chiến đấu và toàn thắng các cám dỗ của ma quỉ lừa đảo được tả trong bài Tin Mừng Chúa nhật thứ nhất Mùa Chay để chiếu soi cho hành trình thiêng liêng của Hội Thánh.

Chiến đấu nội tâm là khởi điểm của hành trình thiêng liêng Mùa Chay. Trong đời sống thường ngày, vì những bận tâm lo lắng của công ăn việc làm và đối với các linh mục, tu sĩ, cả những bận tâm mục vụ, người ta không nhận diện ra những cám dỗ, những quyến rũ của dục vọng và tư lợi trong lòng mình. Do đó, chẳng những người ta không kháng cự, mà còn dễ dàng chạy theo. Trong Mùa Chay, nhờ những giờ cầu nguyện lâu dài hơn và nhờ ánh sáng của Lời Chúa qua việc lắng nghe và suy niệm, người tín hữu có thể nhận ra thực tế của lòng mình và với sức mạnh của ơn thánh, quyết tâm chiến đấu để thanh luyện tâm hồn, hầu tìm lại được sự an bình và sức sống.

b) Quyết tâm theo Chúa Giêsu

Trong Mùa Chay, phụng vụ Lời Chúa nhắc lại việc Chúa hiển dung với lời mời gọi của Chúa Cha: “Đây là Con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng. Các con hãy nghe theo Ngài” (Mt 17,5). “Đây là lời mời gọi hãy xa lánh những ồn ào hằng ngày để chìm đắm trong Thiên Chúa: Ngài muốn thông truyền cho chúng ta mỗi ngày một Lời có sức đi thấu vào tâm can sâu thẳm nơi phân biệt sự lành, sự dữ và tăng sức cho ý chí bước chân theo Chúa” (Sđ, số 2).

Chúng ta đang sống trong một xã hội vàng thau lẫn lộn, lành dữ thay đổi lẫn nhau, qui luật của Chúa không được coi trọng và chính Chúa cũng bị khinh thường. Người ta sẵn sàng “bán Chúa để lấy 30 đồng bạc”, bán rẻ nhân phẩm hay coi thường tiếng lương tâm vì lợi nhuận và vì thú vui. Hoàn cảnh này là một thách đố quyết liệt cho các tín hữu của Chúa. Trong mọi thời đại, bước chân theo Chúa đòi phải can đảm và sẵn sàng chịu thiệt thòi để trung thành với Chúa. Điều này, trong quá khứ không xa, các tín hữu của Chúa đã coi như điều dĩ nhiên của việc theo Chúa, nhưng hôm nay, không thiếu những tín hữu coi là điều không tưởng và nhiều người đã chạy theo những hứa hẹn hão huyền và từ từ xa lánh Chúa.

Tôi tha thiết mời gọi tất cả hãy trỗi dậy và kiên cường trong những chọn lựa Đức Tin, dám hy sinh để trung thành với Chúa và giới răn của Người. Thế giới hôm nay cần có chứng tá của những tín hữu và cộng đoàn tín hữu hăng say và nhiệt thành. Người ta chỉ tin tưởng và cảm phục những người dám sống cho lòng tin của mình! Đây là một đóng góp lớn lao các tín hữu của Chúa có thể dâng tặng cho thế giới và sau cùng sẽ được nghe thấy lời đầy yên ủi của Chúa: “Hỡi đầy tớ tốt lành và trung kiên, vì ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta cho ngươi có quyền trên việc lớn. Hãy vào tham dự niềm vui của chủ ngươi” (Mt 25,21).

2. Trong tinh thần của Chương trình Ngũ niên mừng Kim khánh giáo phận

Trong tình thương yêu quan phòng của Thiên Chúa, hành trình thiêng liêng của năm thứ nhất trong chương trình Ngũ niên chuẩn bị mừng Kim khánh giáo phận với chủ đề: “Gia đình và Giáo xứ - Cộng đoàn Lời Chúa” lại trùng hợp với hành trình thiêng liêng Mùa Chay được Đức Thánh Cha đề ra cho tất cả Giáo Hội hoàn vũ. Do đó, chúng ta đã có được những chỉ dẫn quí báu cho hành trình thiêng liêng trong Sứ điệp Mùa Chay của Đức Thánh Cha. Trong bối cảnh của hành trình Ngũ niên của giáo phận, tôi muốn nhấn mạnh đặc biệt hai khía cạnh.

a) Chiều kích cộng đoàn

Mỗi tín hữu được mời gọi lấy Lời Chúa làm sức sống và ánh sáng chiếu soi cuộc sống hằng ngày. Để hành trình cá nhân của mỗi tín hữu được bền bỉ vững chắc, chúng ta cần khơi lên trong giáo xứ và trong mỗi gia đình lòng yêu mến Lời Chúa, niềm vui mừng lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành (x. Lc 11,27-28). Biết bao nhiêu cố gắng và sáng kiến mục vụ chúng ta cần phải có để cấu tạo được những giáo xứ và gia đình có nếp sống hăm hở lắng nghe và thực hành Lời Chúa!

b) Cộng đoàn yêu thương

Điểm thứ hai tôi muốn xin tất cả giáo phận nỗ lực thực hiện là tình yêu thương trong các gia đình và các giáo xứ. Được xây đắp trên nền tảng Lời Chúa, mỗi gia đình và mỗi giáo xứ sẽ trở nên giống như cộng đoàn các tín hữu đầu tiên với đặc tính là cộng đoàn cầu nguyện và cộng đoàn sống trong tình huynh đệ, và nhờ đó, con số các tín hữu mỗi ngày mỗi thêm đông số (x. Cv 2,42-48).

Hơn bao giờ hết, các liên hệ giữa các cá nhân và các cộng đoàn trong thế giới hôm nay đang bị ô nhiễm bởi sự thù nghịch, chia rẽ và bạo động. Qua các phương tiện thông tin, người ta gây ra nhiều nghi kỵ, hoài nghi, hiềm khích... Đây là một thách đố cho chúng ta, những môn đệ của Chúa Kitô, Đấng đã đến xóa bỏ hận thù và bức tường ngăn cách để hòa giải con người với nhau và với Thiên Chúa (x. Eph 2,14-16).

Chúng ta có thể coi những hoàn cảnh của thế giới hôm nay là lời mời gọi và van xin các giáo xứ và các gia đình trong giáo phận chúng ta. Vào một giáo xứ hay một gia đình trong giáo phận chúng ta, người ta sẽ thấy những dấu hiệu yêu thương và kính trọng: kính trọng nhau và kính trọng mọi người. Tại các giáo xứ và các gia đình trong Giáo phận sẽ không còn tiếng nói hành, nói xấu ai, nhưng chỉ thấy những dấu hiệu của sự hiện diện của Chúa, của tha thứ, của thương yêu và hiệp nhất, của dấn thân và phục vụ phát xuất từ việc lắng nghe Lời Chúa và từ kinh nghiệm đã được Chúa yêu thương và tha thứ.

3. Đôi lời tâm huyết gửi hàng linh mục

Trước khi kết thúc lá thư Mùa Chay, tôi muốn gửi đôi lời tâm huyết đến quí Cha, những người cộng tác gần gũi và quí báu của Giám mục.

Hành trình canh tân của Mùa Chay và của Chương trình Ngũ niên tùy thuộc mỗi thành phần trong giáo phận. Tuy nhiên, cuộc sống Đức Tin của các giáo hữu trong hành trình cá nhân, cũng như cộng đoàn giáo xứ và gia đình tùy thuộc phần lớn nơi tinh thần và sự dấn thân mục vụ của quí Cha. Tôi ký thác nơi quí Cha những thao thức mục vụ của giáo phận. Xin quí Cha dành mọi sức lực và sáng kiến mục vụ để thúc đẩy đoàn Dân Chúa bước đi theo hành trình canh tân Mùa Chay và của Chương trình Ngũ niên của giáo phận.

Với lòng tin tưởng mến yêu, chúng ta phó thác hành trình Mùa Chay và Chương trình Ngũ niên nơi Đức Trinh Nữ Maria, Đấng được xưng tụng là người có phúc vì biết lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành (x. Lc 11,27-28). Xin Đức Mẹ che chở và hướng dẫn tất cả giáo phận chúng ta, để các giáo xứ và các gia đình trở nên những cộng đoàn đức tin sống động, hạnh phúc trong tình yêu thương đùm bọc và tha thứ, hăng say dấn thân làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường sống và công ăn việc làm. Xin các Thánh Tử Đạo Việt Nam cầu bầu cho chúng ta.

Tòa Giám Mục Xuân Lộc, ngày 07 tháng 03 năm 2011

+ Đaminh Nguyễn Chu Trinh

Giám mục giáo phận Xuân Lộc

Page 16 of 16