Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Saturday
Sep 23rd 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME ĐOÀN THỂ & PHONG TRÀO

Đoàn Thể & Phong Trào

MÙA CHAY, TẬP SỐNG TĨNH LẶNG VÀ CÔ TỊCH

“Bấy giờ Chúa Giêsu được dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ” (Mt 4,1)

Tin Mừng Chúa nhật I Mùa Chay – dù là của Matthêu, Luca, Marcô – luôn luôn là trình thuật Chúa Giêsu được dẫn vào hoang địa. Như thế đã rõ, Mùa Chay là mùa “vào sa mạc”.

Sa mạc ở đây không phải là nơi của cát trắng và nóng cháy. Trong tiếng Hi Lạp, từ heremoncó nghĩa là nơi thanh vắng và yên tĩnh. Đây chính là nơi Chúa Giêsu lui vào để sống suốt 40 đêm ngày trước khi thi hành sứ vụ công khai. Đây chính là nơi Người tìm đến từ sáng sớm để cầu nguyện (Mc 1,35). Thánh Luca còn kể rằng khi Chúa Giêsu tuyển chọn 12 tông đồ, Người cần có thời giờ suy nghĩ về sự chọn lựa này và Người đã lên núi (Lc 6,12). Núi là nơi thanh vắng và yên tĩnh.

Read more...

THÁNH CẢ GIUSE QUAN THẦY BÀU CHỮA HỘI THÁNH!

... Thánh nữ Têrêsa GIÊSU (Têrêsa thành Avila) - tục danh Teresa Sánchez deCepeda Ávila y Ahumada - là nữ Tiến Sĩ Hội Thánh. Thánh nữ chào đời năm 1515 tại Avila và từ trần năm 1582 tại Alba de Tormes bên nước Tây Ban Nha.Ngay từ niên thiếu, Têrêsa đã có lòng đạo đức sâu xa và ước ao dâng mình cho Chúa. Năm 1531 - 16 tuổi - Têrêsa được thân phụ gửi vào trọ học nơi tu viện ”Đức Bà Ban Ơn”. Nhưng chỉ một năm sau, Têrêsa phải rời ký túc xá trở về gia đình chữa bệnh lao phổi và bệnh thần kinh. Chứng bệnh thần kinh quái ác làm cho tứ chi của Têrêsa bị co quắp đau đớn và không thể bước đi, nếu không có người dìu đỡ. Trong tình trạng đau thương và nhất là không còn hy vọng nơi các phương thuốc chữa trị trần gian, Têrêsa ngước mắt lên trời, khẩn cầu cùng Thánh Cả GIUSE. Và Têrêsa đã gõ đúng cửa. Têrêsa được khỏi bệnh. Trong cuốn ”Tự Thuật”, thánh nữ Têrêsa Avila cẩn thận ghi lại ơn lành đầu tiên nhận lãnh từ Thánh Cả GIUSE và làm chứng về quyền năng trợ giúp của Thánh Cả GIUSE như sau.Tôi chọn Thánh Cả GIUSE làm trạng sư và làm sư phụ cho tôi. Tôi tha thiết khẩn cầu cùng Người. Thánh Cả liền kéo tôi ra khỏi cơn gian nan khốn khó, chữa lành tật bệnh phần xác. Sau này, trong những trường hợp hiểm nguy cho danh dự và phần rỗi linh hồn, cũng chính bàn tay Thánh Cả GIUSE kéo tôi ra khỏi vực thẳm. Thánh Cả GIUSE - Người Cha và là Vị Chúa - luôn ban cho tôi nhiều ơn lành, quá sức chờ mong và cầu xin của tôi. Cho đến giây phút này tôi có thể quả quyết:
- Chưa bao giờ tôi xin điều gì với Thánh Cả GIUSE mà lại bị Người từ chối!

Read more...

Ở Lại Với Người: Nghịch Lý Tin Mừng - Đường Theo Chúa

Nghịch Lý Tin Mừng

Các bạn trẻ thân mến,

Sự xuất hiện của Giêsu trên trần thế này như một mũi kim làm xé toạt tất cả những lề thói vốn đã quá quen thuộc với con người, đặc biệt là những người cùng thời với Ngài. Ngài đòi hỏi mọi người phải có một tinh thần mới để có thể sống trong kỷ nguyên mới mà Ngài thiết lập. Ngài muốn con người phải thay đổi não trạng vốn mang đầy những giá trị trần tục thấp kém để có thể sống thực sự trong Vườn Địa Đàng mới của Ngài. Tự bản thân Giêsu đã gồm tóm vô vàn sự lạ và là một nỗi ngạc nhiên vô cùng to lớn của con người mọi thời. Sinh ra trong cảnh khó nghèo, sống trong một gia đình nghèo, làm bạn với những người nghèo và tội lỗi, cứu chữa bệnh nhân trong ngày Sabat, đồng bàn với các kỹ nữ và thu thuế, kêu gọi các môn đệ là những người ngu muội, dốt nát và quê mùa, đi lang thang khắp nơi rao giảng, chứ không phải ngồi bệ vệ trên tòa cao. Chưa một vị Rabbi nào thực thi những điều ấy. Với cung cách kỳ lạ đó của mình, Giêsu đã thực sự chinh phục được trái tim của hàng triệu con người.

Read more...

Ở Lại Với Người: Lề Luật Mới Tinh Thần Mới - Nghe Và Tuân Giữ Luật Chúa

Lề Luật Mới Tinh Thần Mới

Các bạn trẻ thân mến,

Vào thời Đức Giêsu, các kinh sư và luật sĩ bày ra rất nhiều điều lệ buộc mọi người phải tuân thủ theo. Luật lệ vốn tự bản chất là cái giúp con người khuôn đúc mình để lớn lên và trưởng thành hơn, đã vô tình trở nên gông cùm kéo ghì con người xuống, biến con người thành nô lệ cho chúng. Con người sống nhưng không còn là sống nữa, chỉ tồn tại cho qua ngày đoạn tháng, tuân thủ những giới luật kia trong chịu đựng và nặng nề. Giêsu đến trong trần gian này đã mang lại một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của tự do, bình an và thịnh trị. Luồng khí mới mà Ngài thổi vào trần gian làm bật tung tất cả những gì là cũ kĩ, lỗi thời và lạc hậu. Cung cách hành xử của Ngài đã làm đảo ngược hết thảy những gì các bậc thầy thời ấy cho là truyền thống, là lề luật, là điều cần phải tuân giữ kĩ càng và nghiêm ngặt. Đối với Giêsu, con người phải đứng ở vị trí trên hết và luật lệ đầu tiên mà con người cần phải theo là luật của tình yêu. Giêsu đã đưa cái gọi là lề luật trở về đúng với chức năng của nó và mời gọi con người hãy sống một đời sống mới, cho phù hợp với sứ điệp và tin vui mà Ngài đã mang xuống từ trời.

Đối với Giêsu, giúp một người đã nhiều năm sống trong bệnh tật được lành thì quan trong hơn chuyện giữ ngày Sabat theo luật cách cứng nhắc. Giúp một người đói có của ăn thì có ý nghĩa hơn chuyện suốt ngày đọc kinh mà chẳng có lòng bác ái. Ngài còn nhắn nhủ các môn đệ Ngài rằng nếu đang khi dâng lễ vật trên bàn thờ mà sực nhớ mình đang có gì bất hòa với anh em, thì hãy để của lễ lại đó, đi làm hòa với anh em trước đã, rồi hãy đến dâng lễ vật sau. Rõ ràng, Giêsu coi trọng tình người hơn là những lễ vật vô hồn kia. Có lần, Ngài ngồi quan sát người ta dâng cúng cho đền thờ. Ngài vội vã gọi các môn đệ tới và chỉ cho thấy hình ảnh một bà góa nghèo bỏ vào thùng chỉ có hai đồng bạc. Ngài cho rằng hai đồng bạc ấy mới thật sự là của lễ đẹp lòng Thiên Chúa, là lễ dâng quý giá hơn cả, bởi vì nó chứa đựng trong đó cả một tình yêu mến thật trong sáng và thấm đượm những hy sinh. Bất chấp những luật cấm, Giêsu đã đụng chạm đến những người cùi một cách thản nhiên để chữa lành họ mà không sợ bị nhiễm lây, vì tự trái tim đầy lòng thương cảm của mình, Ngài hiểu được họ cô đơn biết chừng nào, và họ cần một bàn tay biết bao nhiêu. Cuộc cách mạng mà Giêsu thực thi là cuộc cách mạng của tình yêu, của lòng thương xót.

Các bạn trẻ thân mến,

Rượu mới thì cần phải được chứa đựng trong một bầu da mới. Thầy Giêsu đã dạy chúng ta như thế. Ngài đã xuống thế gian này là để mang đến cho chúng ta những điều mới mẻ. Ngài dạy chúng ta biết cách sống thế nào cho xứng với sứ điệp vui mừng mà Ngài đã trao gửi. Ngài đến để phục hồi lại trong chúng ta sự tự do vốn có của mình. Ngài muốn chúng ta yêu mến Chúa Cha và yêu mến nhau trong tình hiệp nhất, trong sự thoải mái, tự nguyện và với hết tấm lòng mình. Ngài đòi con tim chúng ta phải lên tiếng khi diện kiến Ngài, chứ không phải là một mớ những lời độc thoại vô hồn hay những câu kinh khô khan. Ngài cần tình yêu của ta như một lời đáp trả cho tình yêu của Ngài. Ngài thích nơi ta có một tương quan gắn bó với Ngài. Ngài muốn con tim của Ngài và của ta đụng chạm đến nhau, vì luật mới của Ngài là luật xuất phát tự thâm sâu của cõi tâm linh, chứ không phải nơi môi miệng bên ngoài.

Chúng ta đã sống trong kỷ nguyên của Giêsu khá lâu nhưng dường như những lề lối cũ vẫn cứ tồn đọng mãi trong đời sống của chúng ta. Ta đi lễ, đọc kinh như một cỗ máy, như một người mất trí, hay thậm chí coi đó như một hình phạt nặng nhọc. Ta chỉ nhìn thấy nơi đạo Công Giáo của chúng ta nhưng cấm đoán mà không thấy nơi đó lời mời gọi kết thân với Chúa, Đấng vẫn hằng yêu thương ta. Ta câu nệ những giới luật này, quy định nọ mà quên mất đi lối cư xử lấy tình yêu làm đầu. Ta hạnh phúc khi bố thí cho nhà thờ một số tiền lớn và nghĩ rằng mình đã lập được công to, trong khi những người khác khẩn thiết nài xin ta, ta chẳng buồn đưa mắt nhìn tới. Một luật lệ sẽ nhanh chóng đè nặng lên ta, khiến ta phải ngộp thở khi ta không đặt vào đấy tình yêu mến của mình.

Giêsu mời gọi ta hãy có một sự hoán cải từ tận sâu trong tâm hồn mình và hãy mặc lấy những điều mới mẻ Ngài mang đến. Đó là sự mới mẻ của tình yêu, của hy vọng và ân sủng. Hãy là một con người của tình yêu, là một Kitô hữu của hy vọng, và rồi ta sẽ cảm nghiệm được những ân phúc lớn lao mà Giêsu đã mang đến cho chúng ta bằng giá máu của người. Làm mới cuộc sống mình hàng ngày thì đời ta mới thanh thoát và đượm nét bình an.

Nghe Và Tuân Giữ Luật Chúa

Các bạn trẻ thân mến,

Ngày ấy, Giêsu giảng dạy cho dân chúng nghe. Những lời vàng từ miệng Người thốt ra như thiêu đốt cõi lòng, làm bừng dậy những niềm vui. Ai cũng chăm chú lắng nghe và cũng thán phục sự khôn ngoan và chiều sâu thiêng liêng của Người. Có một cụ bà không thể kìm nỗi cảm xúc, đã thốt nên lời ca ngợi người mẹ nào đã sinh ra và giáo dưỡng Người. Nhưng Đức Giêsu đã trả lời rằng người vinh phúc thật sự phải là người lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa. Nơi khác, Giêsu lấy hai hình ảnh để diễn tả tầm quan trọng của việc đặt đời sống mình trên Lời Chúa. Ngài cho biết người nào xem thường Lời Chúa thì cũng giống như xây nhà trên cát. Chỉ cần một ngọn cuồng phong đến là có thể làm cho nó sụp ngay. Còn người biết lấy Lời Chúa làm định hướng cho cuộc đời mình thì tựa như người xây nhà trên nền đá. Dù mưa sa, nước lũ có tràn về thì nhà ấy cũng không sao.

Một trong những gia sản quý báu mà Giêsu mang đến cho con người là Lời vàng ngọc của Người, bởi lẽ đây không phải là lời con người, nhưng là tiếng nói của Thiên Chúa từ trời ban xuống. Lời ấy có sức cứu độ con người. Chính Giêsu cũng cảm nghiệm được một thực tại đáng đau buồn là không phải ai cũng đón nhận Lời Ngài. Đó là những người có tâm hồn sỏi đó, tâm hồn khô cạn hay tâm hồn đầy gai góc, khiến Lời Chúa không thể đến và sinh hoa kết quả được. Giêsu đã từng rất hạnh phúc khi cô Maria ngồi dưới chân nghe Chúa nói và cho rằng hành vi như vậy thì tốt hơn là chuyện mải mê phục vụ dưới bếp của Matta. Giêsu đã thưởng công cho những người dân chăm chú nghe Ngài giảng bằng một bữa ăn thịnh soạn đầy ắp cá và bánh trên sa mạc hoang vu. Hai môn đệ Emmaus trở về quê trong nỗi ê chề thất vọng. Lòng họ u sầu như ánh chiều tà đang nhẹ nhàng khuất núi. Họ lê những bước chân chán chường bởi tia hy vọng trong lòng họ như ngọn đèn leo lét. Bất chợt Giêsu xuất hiện, chia sẻ cho họ nghe về Kinh Thánh. Vừa nghe những lời ấy, lòng họ bừng cháy lên và tìm lại được nguồn vui sống.

Các bạn trẻ thân mến,

Bước đi trong cuộc đời đầy nắng sương, có những lúc ta tự hỏi không biết mình phải đi theo đường nào. Những ngổn ngang trong tâm tư cứ trồi dậy. Một mặt ta muốn mình hành thiện để không áy náy lương tâm, nhưng đàng khác có cái gì đó nhuốm mùi ích kỷ và dã tâm vẫn cứ thôi thúc ta. Một người có lối hành xử không tốt với ta. Có khi ta cũng muốn thứ tha, nhưng thấy sao khó quá, vả lại thứ tha như Lời Chúa dạy thì ta được điều gì? Nghĩ thế, ta lập tức phản ứng lại bằng những thủ thức tương tự để thỏa mãn cho cái tôi to tướng đang hoành hành nơi mình. Rốt cuộc, tồi tệ chất thêm tồi tệ. Đầu óc ta, cuộc đời ta chỉ là tập hợp của những thủ đoạn và hờn ghen. Sự bình an cứ xa mãi chốn nào.

Nhiều lần trong cuộc sống, ta như đứng giữa ngã ba đường. Ta phải chọn lựa cho mình một hướng đi, nhưng ta phân vân không biết phải chọn lựa thế nào vì đi đâu ta cũng thấy toàn những đêm tối bủa giăng ngăn lối. Ta vội chạy tìm thầy này bà nọ, bói toán này, xem quẻ kia, nhưng lại quên mất lời Thánh Vịnh dạy chúng ta rằng, Lời Chúa chính là ngọn đèn soi cho ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho ta đi. Trong Lời Chúa, ta được dạy để biết căn bản mọi sự là từ đâu. Ta được chỉ dẫn cách thức phải hành xử ra sao khi gặp người ta không ưng ý, khi phải đối diện với những bất công, khi là nạn nhân của những mưu toan gian ác của kẻ thù.

Nơi Lời Chúa, ta được mặc khải cho biết mình từ đâu mà có và sẽ đi về đâu. Ta được nghe những lời yêu thương và vỗ về của Chúa. Ta cảm nghiệm được mình được Chúa chở che như thế nào và chúng ta có một vị trí quan trọng như thế nào trong mắt Chúa. Lời Chúa cho chúng ta biết để có được bình an, ta phải lấy hiền hòa để đáp lại hung ác, để có được niềm vui, ta phải biết hy sinh để xoa dịu bạo tàn. Lời Chúa mời gọi ta phải biết cúi xuống để phục vụ, phải biết dang rộng vòng tay, mở rộng con tim với hết thảy mọi người. Khi ở lại với Lời Chúa, ta không chỉ tiếp xúc với những tư tưởng khôn ngoan, nhưng còn được đụng chạm đến chính Chúa là nguồn vui và hạnh phúc của mình.

Điều đáng tiếc là các bạn trẻ chúng ta ngày nay đang dần trở nên xa lạ với Kinh Thánh. Những cuốn tiểu thuyết xem ra có phần hấp dẫn hơn. Chưa nghe được Lời Chúa thì huống gì dám nghĩ đến chuyện giữ lời Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta có thể cảm nếm được sự dịu ngọt mà Lời Chúa mang đến, ngỏ hầu chúng ta có thể luôn gắn chặt đời mình với Lời Chúa và nhờ đó mà sinh được nhiều bông hạt cho chính mình và cho trần thế.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nhìn Lại Một Năm Qua

Trong những giây phút cuối cùng của năm cũ này, chắc có lẽ mỗi người trong chúng ta đều cảm thấy có chút bâng khuâng, là lạ. Có một cái gì đó sắp qua đi. Một chặng đường của cuộc sống đã trôi về quá khứ. Một năm trước, khoảng thời gian vừa rồi vẫn còn nằm trong dự tính và chờ đợi của ta. Giờ đây, nó đã đi qua lúc nào không biết, hệt như một thoáng giây, như thước phim ghi lại bao kỷ niệm ngọt ngào và êm ái.

Cứ mỗi độ cuối năm là ta cảm thấy bồi hồi, một cảm xúc thật khó tả. Ngọn gió quen thuộc như ngày nào, cành mai, cành đào đang hé nở, bánh mứt, hạt dưa đã chuẩn bị sẵn sàng, bầu không khí vừa hạnh phúc, vừa lâng lâng như bao trùm cả đất trời, hòa quyện vào tim ta, làm nên một phần của con người ta.

Lại một đoạn đường nữa đã qua đi, trẻ thơ thì vui mừng vì mình được thêm một tuổi mới, người già thì có chút lắng lo vì mình đang tiến gần hơn đến khoảnh khắc phải ra đi. Tóc bạc thêm vài sợi, da chùng đi một tí… Cái kết thúc luôn làm ta chạnh lòng với những cảm xúc vui buồn trộn lẫn. Thế nên, nó mới làm ta thấy nao nao.
Một năm qua đi, biết bao ơn lành Chúa ban xuống trên ta. Dẫu cũng có không ít những thăng trầm trong cuộc sống, nhưng dường như mọi chuyện vẫn đâu vào đấy, cũng qua đi cách nhẹ nhàng. Ít ra, cho đến giây phút này, ta và gia đình vẫn còn được sống, được bình an, được vui hưởng thêm một khoảng thời gian nữa trên cõi đời. Công ăn việc làm có thể không như ta mong đợi, nhưng ng
y ba bữa cơm, Chúa vẫn ban cho đủ. Đông sang trở trời, ta vẫn có cái để mặc cho ấm thân.

Một năm qua, ta gặp gỡ thêm biết bao nhiêu con người mới, thiết lập thêm bao mối tương quan. Cuộc sống của ta như được mở ra hơn với những tương quan ấy. Họ đến trong đời mình, chia sẻ với mình những nỗi buồn vui. Hành trình tại thế của ta nhờ vậy là bớt đi phần đơn côi, trống vắng.

Suốt một năm qua, có biết bao lần Chúa che chở cho ta cách âm thầm mà ta không hề biết. Biết đâu có lần nào đấy, mình suýt bị tai nạn giao thông, nhưng may mà không sao cả. Có lần mình mắc một căn bệnh thập tử nhất sinh, nhưng Chúa đã cho tai qua nạn khỏi. Có lần gia đình lục đục, cãi vã tưởng sẽ dẫn đến những rạn nứt hay chia lìa, nhưng cuối cùng mọi chuyện cũng qua đi… Bàn tay của Chúa vẫn bao bọc lấy ta. Ta hãy dâng lời tạ ơn Chúa.
Nhưng một năm qua, cũng có biết bao điều ta làm gây tổn thương cho người khác, lỗi nghĩa cùng Chúa, khiến cho cuộc sống ta chẳng mấy khi bình an. Dường như ta không hăm hở mấy chuyện thiêng liêng đạo nghĩa. Dường như ta có phần chểnh mảng chuyện đi lễ đọc kinh. Dường như có lúc ta còn lo cho mình hơn là hy sinh cho gia đình, cho người bạn đời và cho những đứa con yêu dấu. Biết đâu cũng có vài lần ta vô tình nói những điều khiến bố mẹ phải buồn sầu mấy hôm.

Rồi lắm khi ta ham chơi, không chịu nghĩ đến những hy sinh gia đình dành cho mà học tập cho nghiêm túc. Ta còn sa đà vào những đam mê xấu, những trò trụy lạc mà đám bạn rủ rê. Có lúc ta còn không kiềm chế cảm xúc nóng giận của mình mà gây gỗ với người hàng xóm, làm tương quan giữa hai nhà bỗng trở nên căng thẳng, nặng nề.

Ta cũng đã đánh mất đi cơ hội làm một điều tốt giúp tha nhân. Ta đã không dám đưa tay ra nâng đỡ một người anh chị em đang gặp túng thiếu. Ta vẫn còn co cụm trong thế giới riêng của mình, không dám bung mình ra để nói một lời an ủi, một lời yêu thương. Biết đâu, một năm qua, có người thân nào đó của ta về với Chúa mà ta không kịp tiễn đưa, và giờ đây, ta thấy trong lòng nuối tiếc. Nếu có làm điều gì đó không được đẹp ý Chúa, các bạn hãy xin lỗi Chúa.
Nhìn lại một năm, đó không phải là khoảnh khắc ta lôi ra những gì để xảy đến trong quá khứ để dày vò bản thân. Nhưng đó là cơ hội để ta thêm một lần nữa nhận ra hình bóng của Chúa vẫn song hành bên ta trong từng bước đi của cuộc sống, để tạ ơn Người, để xin lỗi Người, để tâm sự với Người, để kể cho Người những nỗi niềm của ta. Tết năm nay chắc là cũng có điều gì đó khác năm trước: số lượng thành viên không còn đủ, hay có thêm những thiên thần nhỏ bé khác vừa mới chào đời. Tất cả đều là ân sủng của Chúa.
Một năm qua, cuộc sống của các bạn có vui không? Đâu là niềm vui lớn nhất của các bạn? Có điều gì xảy đến trong năm qua mà đến bây giờ, các bạn vẫn còn thấy áy náy trong lòng? Có tương quan nào đang rạn nứt mà đến bây giờ bạn vẫn chưa để gàn gắn lại không? Có dự phóng nào mà bạn đã vạch ra hồi năm trước vậy mà đến bây giờ bạn vẫn chưa thể làm được không? Ngẫm nghĩ lại tất cả những gì đã xảy đến, bạn thấy vui hay buồn?
Chúng tôi xin mời các bạn hãy tự mình thưa lên cùng Chúa một lời nguyện ngắn nào đó, đúc kết trọn vẹn tâm tình mà bạn đang có lúc này đây, một lời nguyện chân thành và tha thiết nhất.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ở Lại Với Người: Đồng Hóa Với Con Người - Công Bố Năm Hồng Ân

Đồng Hóa Với Con Người

Các bạn trẻ thân mến,

Sau khi trải qua những thời loạn lạc, tị nạn, gia đình Thánh Gia đã về định cư tại Nazaret. Tại đây, họ chia sẻ với nhau cuộc sống âm thầm và bình dị như bao gia đình khác. Tin Mừng không hề thuật lại cho chúng ta biết họ đã sống như thế nào nhưng chỉ hé lộ một chi tiết là “trẻ Giêsu ngày càng khôn lớn, luôn đẹp lòng Thiên Chúa và người ta.” Để có thể nuôi sống gia đình, Giuse phải có một nghề nghiệp nào đó. Và sau khi lớn lên, Giêsu cũng nối nghiệp cha. Suốt hơn 30 năm âm thầm lặng lẽ, Giêsu đã được nuôi dưỡng và giáo dục trong một môi trường thánh thiện và học cách để trở nên một con người thực thụ. Hít thở được sự khiêm nhường của cha và nét hiền lành của mẹ, cùng với việc liên lỉ kết hiệp với Cha trên trời, Giêsu đã được chuẩn bị thật tốt để thi hành sứ mạng về sau.

Bỗng ngày kia, một vị tôn sư xuất hiện từ hoang mạc, cao giọng kêu gọi mọi người hãy ăn năn sám hối vì vị Cứu Chúa đã gần đến. Vị tiên tri này loan báo hãy san phẳng những đồi cao, hãy uốn cho thẳng những lối quanh co để Đức Chúa ngự đến. Ông quở mắng những người sống trong tội lỗi lâu năm. Ông cảnh báo họ là nếu họ không chịu quay trở lại thì sẽ bị đức công minh của Thiên Chúa trừng phạt như gốc cây bị chặt đổ, như thóc lép bị quẳng vào lò. Nhiều người tuôn đến với ông và được ông làm phép rửa cho. Phép rửa của ông là phép rửa thanh tẩy. Những ai là tội nhân thì cần phải chịu phép rửa này như một dấu chỉ của lòng sám hối. Trong hàng ngũ những con người tội lỗi xếp hàng để chờ được thanh tẩy, bỗng có bóng dáng của Giêsu xuất hiện. Vị Tiền Hô hốt hoảng, ông không dám cử hành phép rửa vì một Đấng thanh sạch như Giêsu thì cần chi phép rửa này. Hơn nữa, ông nhìn nhận rằng chính mình mới là người cần được Giêsu thanh tẩy chứ không phải ngược lại. Nhưng Giêsu một mực từ chối, bảo ông hãy làm những gì cần phải làm, rồi từ từ ông sẽ hiểu. Tại sao Đức Giêsu lại chấp nhận bị coi là tội nhân, dù Ngài tinh khiết và vẹn sạch vô cùng? Vì sao Ngài lại muốn đồng hóa mình với hạng tội lỗi và chấp nhận được rửa tội bởi một con người, trong khi chính Ngài là Thiên Chúa?

Các bạn trẻ thân mến,

Trong thư gửi tín hữu Philiphe, thánh Phaolô đã diễn tả công cuộc tự hạ của Ngôi Hai Thiên Chúa như sau: Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc thấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá (Pl 2,6-8). Sự tự hạ của Ngôi Hai Thiên Chúa từ thân phận Chúa Tể muôn loài xuống thân phận con người mới chỉ là bước đầu tiên. Trở nên như con người, sống như con người, có cảm giác và có các nhu cầu như con người, Ngài đã hoàn toàn giống như con người. Nhưng con người cũng có nhiều loại, nhiều hạng. Có người sống nơi chốn đài cát cao sang, có người cơm dư gạo thừa phú quý. Giêsu đã đi xuống một bước nữa, là chọn cho mình một vị thế ngang bằng với vị thế của một tội nhân, được đánh dấu bằng cái chết nhục hình, cái chết trên thập giá, một hình phạt dành cho những tên tội đồ nguy hiểm, hung ác và ghê tởm nhất.

Vốn là Đấng thanh sạch, Giêsu đã tự xếp mình vào hàng tội nhân là để có thể hoàn toàn chung chia kiếp sống tối đen của con người. Có con người nào không có tội đâu? Nếu Ngài chỉ ở vị trí của những vị thánh, Ngài không thể là Đấng cứu chuộc được. Nếu Ngài muốn giữ một khoảng cách với các tội nhân, Ngài đâu cần xuống thế làm gì. Giêsu đã chọn là một con người, để trở thành mẫu gương cho mọi con người vì Ngài đã sống trọn một đời mà không hề bị vấy bẩn bởi tội lỗi. Giêsu đồng hóa mình với tội nhân, không phải vì Ngài đồng lõa với các tội nhân. Ngài không muốn con người phạm tội nhưng Ngài luôn bao dung với những ai vì yếu đuối mà phạm tội. Ngài không thích tội lỗi mà ta vương vào nhưng Ngài luôn yêu mến và ôm ấp chính con người của ta.

Ngược lại với Giêsu, ta vẫn hay kỳ thị và thích bêu xấu một ai đó khi họ làm điều gì sai. Ta quên mất là người ấy với tội người ấy phạm là hai điều khác nhau. Thiên Chúa dựng nên con người vốn bản chất là tốt đẹp, vì dựa trên khuôn mẫu là chính Chúa. Vì thế, mọi con người đều phải đáng được trân trọng và yêu thương. Tội lỗi có thể làm cho họ có phần xấu đi, nhưng tự bản chất, họ được đóng ấn sự Thiện của Thiên Chúa. Họ đáng thương và cần được giúp đỡ, hơn là đáng trách và bị lánh xa. Giêsu đã từ trời cao xuống tận đáy của âm phủ, xếp mình ngang hàng với tội nhân, là để đưa tội nhân có ngày được nên như Chúa.

Chúng ta hãy cùng tạ ơn Chúa vì tình yêu vô lượng của Ngài dành cho những người tội nhân như chúng ta và xin Ngài giúp chúng ta cũng biết mở rộng trái tim khi hành xử với những anh chị em vì yếu đuối mà sa vào tội lỗi.

 

Công Bố Năm Hồng Ân

Các bạn trẻ thân mến,

Dù đã nhận ra Đức Giêsu khi Ngài đến xin nhận phép rửa và cũng đã giới thiệu hai môn đệ của mình cho Đức Giêsu, nhưng khi đang ngồi trong ngục tối, Gioan Baotixita vẫn sai các môn đệ của mình đến gặp Đức Giêsu để xin một câu trả lời xác chuẩn rằng Ngài có phải là Đấng phải đến không. Phần nào đó, Gioan Tẩy Giả có chút phân vân vì Giêsu quả thực đã làm được rất nhiều điều kỳ lạ mà không ai có thể làm được trước đó, nhưng cách thức mà Giêsu thực hiện sứ mạng của mình thật khác với những gì ông đã từng nghĩ. Trả lời cho thắc mắc của Gioan Tẩy Giả, Đức Giêsu không nói là có, cũng không nói là không. Ngài chỉ căn dặn những người đến hỏi Ngài đôi điều và bảo họ hãy về và thuật lại những gì mà chính họ mắt thấy tai nghe: kẻ điếc được nghe, kẻ què được đi, kẻ câm được nói, người phong được sạch, kẻ chết sống lại. Đối với Giêsu, việc Ngài đến trong thế gian này, trước hết không phải như cái rìu để đốn những gốc cây khô không sinh hoa trái hay như cái rê phân tách lúa lép ra khỏi lúa tốt và ném chúng vào lò lửa. Ngài không đến để sát phạt, nhưng là đến để chiếu tỏa bình an và niềm hy vọng.

Nơi khác, vào một ngày Sabat nọ, Đức Giêsu vào Hội đường. Người ta đưa cho Ngài cuốn sách của tiên tri Isaia. Ngài mở ra thì gặp ngay đoạn chép rằng: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa.” Sau đó, Đức Giêsu gấp sách lại và khảng khái nói với những người đang ngồi nơi ấy rằng: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” Ngài nói thế là để khẳng định sứ mạng của mình, một sứ mạng giải phóng và cứu giúp mọi người, một sứ mạng trao ban cho con người một cuộc sống mới, tốt đẹp hơn, ý nghĩa hơn, tuyệt vời hơn.

Các bạn trẻ thân mến,

Giêsu đến trong đời ta là để trao ban cho chúng ta nguồn sống mới, nguồn sống của chính Ba Ngôi Thiên Chúa, chứ không phải đến để luận phạt chúng ta. Thời kỳ của bản án và kết tội đã qua đi, thời của chuyện ra án phạt không còn nữa. Một trang sử mới bắt đầu, trang sử của màu hồng, của ân sủng và bình an. Chúa Giêsu đã chứng minh cho người dân thời Ngài thấy điều đó. Đi đến đâu, Ngài cũng trao gửi những phép lành từ trời cao. Ngài cầm tay đỡ những người què đứng dậy. Người trả lại ánh sáng cho người không nhìn thấy. Ngài mang đến âm thanh cho người điếc. Ngài đưa người phong hủi trở về với cuộc sống xã hội. Ngài ban của ăn cho những người đói lả vì muốn nghe lời Ngài. Ngài đồng bàn với những người tội lỗi và nâng đỡ họ bằng những lời động viên và tình cảm chân thành. Những ai tìm đến với Giêsu đều tìm thấy một niềm vui khôn tả. Người nào để cho Lời của Giêsu thấm vào người thì con tim luôn luôn bừng dậy ngọn lửa mới. Người phụ nữ ngoại tình tưởng đã bị xử tử vì tội lỗi gây ra nhưng một lời thứ tha và an ủi của Chúa đã giúp cô lấy lại tinh thần. Ông Giakêu suốt một đời bị người ta ghét bỏ, chỉ một lần được Giêsu thăm nhà, đã biến đổi cả đời sống và không ngại chia sẻ của cải mình cho người nghèo khó. Các trẻ em cũng tìm thấy nơi Giêsu sự gần gũi dễ thương nên chẳng ngại ngùng chi khi chạy đến vui chơi với Ngài. Và biết bao nhiêu câu chuyện khác nữa. Sự hiện diện của Giêsu đích thực đã mang hồng ân từ trời xuống.

Ngày hôm nay, một lần nữa, Giêsu cũng muốn chia sẻ với chúng ta rằng sứ mạng của Giêsu là mang đến cho chúng ta niềm hy vọng. Nếu các bạn đang gặp chuyện không vui, các bạn hãy đến với Giêsu, Người chắc chắn sẽ ủi an các bạn, sẽ ban cho các bạn một nghị lực mới, sẽ soi sáng cho các bạn biết đâu là điều cần phải làm để vượt thắng những lười nhác và sức ì của chúng ta. Giêsu sẽ trợ giúp các bạn và sẽ đồng hành cùng các bạn bởi vì đó là sứ mạng mà Chúa Cha đã giao cho Giêsu.

Nhưng ngày hôm nay, chính mỗi người chúng ta cũng được mời gọi để cất bước cùng Giêsu, ra đi khắp mọi nẻo đường để mang tin vui đến cho người khác, công bố cho người khác biết một kỷ nguyên mới, một công trình tạo dựng mới mà Thiên Chúa đang thực hiện nơi Con yêu dấu của Ngài. Hãy là người mang đến niềm vui cho những ai đang buồn, mang đến bình an cho những người đang sầu khổ, mang đến tiếng cười cho những người u buồn than khóc. Nước Thiên Chúa không có chỗ cho những thất vọng và u sầu. Nước Thiên Chúa là vương quốc của tình yêu, của trao ban và hạnh phúc. Giêsu mời gọi các bạn hãy thắp lên trong chính mình và trong lòng người khác niềm hy vọng mới và một Vườn Địa Đàng mới mà Giêsu mang đến trong cuộc giáng lâm của Người. Các bạn có sẵn sàng theo bước Giêsu không?

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Sống Đạo Trong Gia ̣Đình

Ý nghĩa của sống đạo trong gia đình

Chúa Giêsu bảo: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên Trới là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Lập gia đình chính là ơn gọi, Chúa ban cho vợ chồng để cùng nhau và nhờ nhau nên hoàn thiện. Vậy, sống đạo trong gia đình là sống sự nên hoàn thiện, như Chúa Giêsu bảo. Sống đạo trong gia đình không đòi hỏi những nỗ lực thánh thiện qúa sức, nhưng là sống chu toàn sứ mệnh Thiên Chúa giao phó cho đôi vợ chồng, khi Ngài kết hợp bằng Phép Hôn Phối.

Read more...

Ờ Lại Với Người: Thiên Chúa Là Đấng Cứu Độ Tôi - Lời Gọi Mời Cộng Tác

Thiên Chúa Là Đấng Cứu Độ Tôi

Các bạn trẻ thân mến,

Con người chúng ta yếu đuối. Bản chất yếu đuối này của chúng ta đã được thể hiện nơi hình ảnh Ađam và Eva năm xưa, khi vì cứng tin và ngạo mạn, dám cãi lệnh Thiên Chúa. Nó cũng được phản ánh qua hình ảnh dân Do Thái trong kiếp nô lệ bên Ai Cập, lúc bất tín và bội nghĩa khi lữ thứ qua sa mạc khô cằn. Tội ta phạm càng ngày càng gia tăng. Ta ước ao, muốn sống một đời công chính, muốn xây dựng một xã hội bình an, nhưng dường như chẳng thể làm được. Số phận con người, ngay từ khi chối bỏ Thiên Chúa, đã bị gắn chặt với Hỏa Ngục trầm luân.

Thế nhưng, lòng thương xót của Thiên Chúa trỗi vượt hơn tất cả những lầm lỗi của chúng ta. Ta phải gánh lấy những hậu quả do tội ta gây ra, nhưng song hành bên ta, bàn tay của Chúa vẫn kề bên nâng đỡ. Khi nghe tiếng kêu than của dân, Thiên Chúa đã không nỡ bỏ mặc. Ngài làm đủ mọi cách, thi triển những dấu lạ khác nhau để khiến cho Pharao phải trả lại tự do cho dân Người. Trong sa mạc, biết bao nhiêu lần dân bội phản với Chúa, Ngài vẫn kiên nhẫn yêu thương, chiều chuộng và giữ gìn họ hết lần này đến lần khác. Họ muốn ăn bánh, Chúa cho Manna. Họ đòi ăn thịt, Chúa cho đàn chim bay tới. Chẳng những không biết ơn, dân cứ luôn miệng kêu trách Chúa. Chúa cho đàn rắn xuất hiện, làm bị thương nhiều người. Nhưng khi họ xin lỗi, Chúa lại ra tay chữa lành. Tình yêu của Chúa luôn bao bọc lấy họ, luôn làm mới lại tương quan giữa Ngài với họ. Chúa đích thực là Thiên Chúa của tình yêu và giải phóng.

Lời hứa cứu độ của Thiên Chúa không phải chỉ xuất hiện ngẫu hứng sau này, khi dân kêu cứu, nhưng đã nằm trong ý tiền định của Ngài ngay khi con người đầu tiên phạm tội. Ngay khi phát hiện mình đã bị lừa, Ađam và Eva có lẽ cũng cảm nhận được phần nào những hình phạt sắp tới, nhưng hai ông bà sao có thể biết được hậu quả của tội kinh khủng thế nào. Chính Thiên Chúa đã đi bước trước. Ngài để cho hai ông bà phải chịu đựng những gì đã gây ra, nhưng cũng không quên thêm vào bản án một lời hứa sẽ ban Đấng Cứu Độ cho con người. Ngài đã nói với con rắn là tuy nó xảo quyệt và độc ác, nhưng nó sẽ bị đạp đầu, bởi một người sinh ra từ người nữ. Trong mọi chuyện, tuy có thể Chúa lặng im và tưởng chừng vắng bóng, nhưng Chúa chưa bao giờ bỏ rơi con người trong cơ đơn và tuyệt vọng.

Các bạn trẻ thân mến,

Các bạn hãy lặng thinh và ngẫm nghĩ lại xem, có phải khi bạn gặp một khó khăn nào đó, luôn xuất hiện bên cạnh các bạn một ai đó hay một cái gì đó nâng đỡ các bạn không? Chúng ta vẫn hay gọi đó là sự may mắn, nhưng chắc chắn sự may mắn ấy là cả một sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Cái hay của Thiên Chúa là Ngài không ra tay xóa bỏ hoàn toàn sự dữ, nhưng làm cho xuất hiện ngay lòng sự dữ tia sáng của sự niềm vui và thiện hảo. Nhìn vào trong trời đất, ta thấy nơi bất cứ sự xấu nào cũng lóe lên một dấu hiệu báo phúc bình an. Bầu trời đen u ám và làm khiếp sợ bao người. Nhưng nếu không có bầu trời đêm, ta sẽ chẳng bao giờ có được những đêm trăng dịu ngọt soi bóng xuống dòng sông, hay phút thanh bình khi chiêm ngắm các vì sao lung linh nhảy múa. Mùa đông với những cơn bão như làm vỡ tung trời đất. Nhưng nếu không có mùa đông, ta sẽ không còn thấy quý giá nữa khi xuân về, mang theo tiếng chim ca lảnh lót, tiếng hạt mầm tí tách vỡ nhẹ để vươn lên.

Giáo Hội chúng ta hơn hai ngàn năm nay đã trải qua không ít những thăng trầm và bắt bớ. Thế nhưng, bất cứ lúc nào đời sống của Giáo Hội sa đà và khủng hoảng, thì Chúa lại cho xuất hiện khi ấy các vị đại thánh để vực Giáo Hội dậy. Thuở ban đầu, khi Giáo Hội còn phôi thai, Ngài đã đặt Phêrô và Phaolo như hai cột trụ vững chắc để nâng đỡ Giáo Hội. Khi Giáo Hội bị những ham muốn của cải bủa vây, Ngài gửi đến thánh Phanxicô Assisi như một chứng tá của khó nghèo và khiêm nhu. Khi Giáo Hội bị những lạc thuyết tấn công, Ngài cho thánh Đaminh xuất hiện như một vũ khí chống trả. Khi Giáo Hội đứng trước nguy cơ chia rẽ vì các giáo phái Thệ Phản, Ngài đã cho xuất hiện một Inhaxio với ý hướng trung thành với Mẹ Giáo Hội đến cùng. Khi Giáo Hội đắm chìm trong sa hoa hưởng thụ, Ngài sai đến một Teresa Calcutta nhỏ bé, nhưng làm khuynh đảo cả địa cầu vì tấm gương phục vụ và bác ái. Vì hận thù và ganh ghét, người ta bất chấp tất cả để sát hại nhau, Chúa đã đánh động lương tâm của những người thiện chí, mở rộng vòng tay để đón lấy các nạn nhân. Rõ ràng, Chúa luôn luôn dõi mắt chăm lo cho con người.

Lịch sử cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng vậy. Chúa dường như chẳng bao giờ để ý đến những tội lỗi lớn lao ta đã phạm, nhưng lại ghi nhớ rất cặn kẽ những hy sinh nhỏ bé của chúng ta. Chúa chỉ chờ có cơ hội là thi ân giáng phúc cho ta. Chúa đích th
ực là Đấng cứu độ của chúng ta.

Lời Gọi Mời Cộng Tác

Các bạn trẻ thân mến,

Chẳng ai trong chúng ta thích cảm giác chờ. Khi chờ, ta thấy thời gian trôi chậm chưa từng có. Mỗi phút, mỗi giây như kéo lê từng chút một. Khi ta chờ là ta đang mong ngóng cái gì đó, mà không biết khi nào nó sẽ tới. Ruột gan ta nóng lên, tâm trí ta thấp thỏm. Một cảm giác dày vò thật khó chịu vô cùng.

Nhớ lại lời Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Apraham là sẽ ban Đấng cứu thế, dân Do Thái năm xưa lúc nào cũng ngóng đợi. Hết thế hệ này đến thế hệ kia trôi qua, biết là khi đã hứa, Thiên Chúa sẽ giữ lời, nhưng sao chờ đợi hoài chẳng thấy. Từ người trẻ đến người già, ai cũng mong sao Thiên Chúa mau thực thi lời hứa của mình, đến giải thoát mình thoát khỏi ách đô hộ của Đế Quốc Rôma. Maria, một thiếu nữ thôn quê ở xứ Galile hẳn cũng đang trong tâm trạng ấy.

Bỗng một ngày, Thiên Chúa sai Sứ thần đến với cô, chia sẻ cho cô biết kế hoạch cứu độ của Ngài. Thiên sứ cho biết, Chúa sẽ không đến cứu con người như trong truyện thần thoại, sẽ làm lóe sáng trên bầu trời, rời uy phong xuất hiện với lưỡi gươm sắc bén và cưỡi ngựa truy phong, hầu cận đằng sau là vô số triều binh hùng mạnh và bách thắng. Nhưng Ngài muốn trở thành một con người như bao người khác, muốn được làm con của con người, muốn được con người dạy dỗ cho biết phải hành xử ra sao, phải sống thế nào. Và điều quan trọng là Maria được chọn để thực thi vai trò cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa. Chưa thôi ngỡ ngàng, Maria được giải thích thêm là chính Thánh Thần sẽ thi triển quyền năng của Người và khiến cho nàng được thụ thai. Bào thai ấy không phải là sản phẩm của con người, nhưng là thành tựu của quyền năng Thiên Chúa. Khi đã tỏ tường kế hoạch của Thiên Chúa, Maria đã không ngần ngại thưa tiếng “xin vâng”, hiến trọn cuộc đời mình làm theo thánh ý Chúa, dẫu có hy sinh, dẫu có thiệt thòi, miễn là có thể mang Chúa đến cho tất cả mọi người.

Các bạn trẻ thân mến,

Không biết các bạn có giờ thắc mắc là tại sao Chúa không trực tiếp ra tay cứu con người, mà lại phải nhờ vả hết người này đến người khác? Lúc trước, Ngài phải hết lời nài nỉ Môsê để ông chịu về Ai Cập đàm phán với Pharao. Tiếp đến, bất chấp Giona đã nhiều lần từ chối, thậm chí đã tìm cách bỏ trốn, Thiên Chúa vẫn cứ một mực nhờ ông đến xứ Ninive để cảnh tỉnh dân làng. Rồi Ngài cũng dùng đủ cách để lôi kéo Giêrêmia làm ngôn sứ cho mình, cảnh báo tai họa sắp ập đến trên dân. Sau đó lại tốn công chuẩn bị cho việc sinh hạ Gioan Tẩy Giả và bây giờ lại sai sứ thần đến thỉnh ý Maria. Chúa làm một mình không phải nhanh và tốt hơn sao? Cớ sao cứ phải mời gọi con người cộng tác?

Chắc là các bạn vẫn còn nhớ câu chuyện có một bức tượng Chúa bị mất một cánh tay do chiến tranh. Người dân muốn đúc một cánh tay khác để lắp vào cho thẩm mỹ, nhưng vị trưởng làng khôn ngoan đã không đồng ý. Vị ấy bảo rằng, “nếu tay Chúa đã gãy thì ta hãy trở thành cánh tay cho Ngài”. Thiên Chúa vốn là Đấng quyền năng, nhưng dường như đối với chúng ta, Ngài lúc nào cũng muốn giới hạn quyền năng của mình. Ngài làm như thể, khi ta không cộng tác thì chính Ngài cũng không thể làm được gì. Điều tuyệt vời của Thiên Chúa là vậy. Đối với Chúa, một sự đóng góp dù vô cùng nhỏ nhoi của con người cũng trở nên cao cả vô cùng.

Thế nên, các bạn đừng nghĩ là chuyện gọi mời cộng tác của Thiên Chúa chỉ dành cho các nhân vật vĩ đại trong quá khứ, hay là dành cho ai đó, chứ không phải cho chính ta. Lời truyền tin của Sứ Thần vẫn cứ còn vang vọng mãi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, để mang Chúa đến trong mọi người chung quanh mình. Chúa mời ta có sẵn sàng bỏ đi lối sống ích kỷ, thu mình để có thể vươn ra và cởi mở với người khác không. Chúa hỏi ta có dám từ bỏ một đam mê nào đó, vốn đang gây gương xấu cho người khác, để sống một cuộc sống thanh tịnh hơn không. Chúa gợi nhắc cho ta là một hành vi bác ái ta làm với trọn con tim có thể sưởi ấm một tâm hồn lạnh lẽo, ta có dám làm không. Chúa cho ta biết, chỉ cần ta lấy hiền hòa đối lại hung hăng, lấy thứ tha trả lại ganh ghét, ta đã có thể mang Nước Chúa đến trong trần gian này, ta có chấp nhận hy sinh không?

Cộng tác với Chúa luôn đòi ta phải từ bỏ. Môsê phải chịu xa gia đình, Giêrêmia phải chấp nhận chịu tù ngục, đớn đau. Giona phải vất vả chịu nắng chịu mưa. Gioan Tẩy Giả thì đầu rơi khỏi cổ. Còn Mẹ Maria thì bỏ dở mộng ước tương lai, suốt một đời vác thánh giá cùng Con lên đồi vắng. Nhưng cộng tác với Chúa cũng là một vinh dự lớn lao cho ta vì ta được thông phần vào công trình cứu độ của Thiên Chúa. Chẳng phải vì làm không được nên Chúa mới mời gọi ta, nhưng vì tình yêu nên Ngài mới xin ta cộng tác. Tiếng xin vâng của Mẹ đã giúp cứu độ muôn loài. Còn bạn, bạn sẽ thưa thế nào với Chúa, khi Chúa mời bạn cùng lao tác với Người?

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Ở Lại Với Người: Sự Kém Tin Của Con Người - Sự Bất Lực Của Con Người

Sự Kém Tin Của Con Người

Các bạn trẻ thân mến,

Sự bất trung của dân Do Thái đối với Thiên Chúa như trình thuật sách Xuất Hành kể lại cho chúng ta bắt nguồn như một thái độ kém tin của họ đối với Người. Ngay khi chứng kiến những điều cao cả Người làm, họ dễ dàng nhìn nhận quyền năng vô biên của Người. Khi còn ở đất Ai Cập, các phép lạ Chúa thực hiện qua tay Môsê đã khiến họ ngỡ ngàng không ít. Rồi chuyện cả một đạo quân hùng mạnh của Pharao bị dòng nước cuốn trôi trong chớp nhoáng cũng khiến họ phải một phen kinh hồn. Từ việc chứng kiến những việc kỳ diệu của Thiên Chúa như thế, họ thấy thật hạnh phúc khi được Chúa nhận làm dân riêng, được có Chúa bao bọc chở che trong suốt hành trình dài lắm gian nan khốn khó.

Vào trong sa mạc, họ bước đi trong niềm vui sướng vì có Chúa kề bên. Nhưng thái độ ấy chẳng kéo dài được bao lâu, thì kí ức về những công trình kỳ diệu của Thiên Chúa dần dần mờ nhạt trong tâm trí. Họ bắt đầu lãng quên Thiên Chúa, và quay sang với những đam mê lạc thú của mình. Nhớ có lần, họ đòi có của ăn, Chúa ban Manna. Rồi họ muốn ăn thịt, Chúa cho một đàn chim bay đến. Ngay khi Chúa thỏa mãn những đòi hỏi của họ, họ ca ngợi Chúa và đặt hết niềm tin tưởng nơi Chúa, nhưng khi những tham vọng của họ không được lấp đầy, họ quay sang kêu trách Môsê và phỉ báng Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát họ. Để khi Thiên Chúa cho những con rắn độc bò ra cắn chết nhiều người, họ mới vội vã thống hối ăn năn, xin Chúa thứ tha và chữa lành. Và biết bao câu chuyện tương tự khác xảy đến trên hành trình tiến về đất hứa này của dân khiến ta có cảm tưởng họ như đang chơi đùa với Chúa. Niềm tin của họ hệt như bóng mây, chợt hiện chợt tắt, tùy theo cảm hứng, tùy vào thời gian.

Các bạn trẻ thân mến,

Tin vào Chúa luôn là một thách đố cho con người ở mọi thời đại. Rất nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã đòi hỏi người khác phải có lòng tin. Khi về thăm quê sau bao nhiêu tháng ngày xa cách, Giêsu xuất hiện như một vị ngôn sứ, một bậc thông thái. Nhiều người đã ngạc nhiên về sự thay đổi này của Ngài. Họ không thể chấp nhận chuyện con trai của một bác thợ mộc và bà Maria tầm thường lại có thể làm thầy của họ. Họ không thể chấp nhận chuyện một chàng trai ngày xưa tầm thường nhỏ bé như bao người, nay lại trở nên một bậc kỳ tài giữa dân chúng. Họ đã không tin, nên Giêsu không thể làm phép lạ nào tại đó. Nơi khác, có nhiều bệnh nhân tuôn đến với Ngài, xin Ngài chữa trị. Có người lén lút đưa tay chạm vào áo Người vì tin rằng chỉ như thế thôi cũng đủ chữa lành rồi. Và họ đã được như ý. Lần nọ, Đức Giêsu dạy các tông đồ rằng nếu lòng tin của họ chỉ lớn bằng một hạt cải thôi thì đã có thể dời núi chuyển non. Ngài còn than thở, rằng không biết ngày Ngài trở lại, niềm tin có còn xuất hiện trên mặt đất nữa không. Đối với Giêsu, có lòng tin vào Chúa là điều căn cốt và thiết yếu của con người.

Tin vào Chúa là trao gửi hết cho Người trọn vẹn con người chúng ta. Khi ta tin vào Chúa, ta chân nhận Ngài là Đấng đủ sức làm được những điều ta không thể. Tin vào Chúa là thái độ cởi mở của tâm hồn, là dành cho Chúa một chỗ đứng quan trọng trong cuộc đời ta, là phó thác mọi sự cho Người. Tin đồng thời cũng là hiến dâng, là trao gửi. Người xứng đáng để ta tin phải là người rất tuyệt vời trong mắt ta. Ta dành trọn vẹn tình yêu cho người ấy. Thế nên, tin và yêu có một mối liên kết rất chặt chẽ với nhau.

Điều đáng buồn là lắm khi thái độ của chúng ta với Thiên Chúa cũng hệt như dân Do Thái năm xưa. Ta chỉ tin khi nào ta chứng kiến rõ ràng và tường tận. Khi nghe đâu đó có phép lạ xảy ra, lòng ta như bừng dậy, đức tin ta rạo rực. Ta mong muốn hành hương đến nơi này nơi nọ có sự tích phép lạ để thỏa chí tò mò, trong khi Thánh Thể là nguồn cội mọi ơn lành đang chờ ta hàng ngày nơi nhà Tạm, ta chẳng màng chi đến. ta hăm hở với những gì lạ thường, hấp dẫn, hơn những gì bình dị, đơn sơ. Ta biết là Thiên Chúa quyền năng đấy, nhưng ký ức ấy không sống động trong ta, nên khi tai ương của cuộc đời thình lình ập xuống, ta chới với và không biết bám vào đâu. Giải pháp đầu tiên xảy đến trong đầu không phải là cậy tin và tìm đến Chúa, nhưng là chạy theo những trò mê tín dị đoan, những giải pháp mang tính thủ thuật của con người.

Phải, ta thiếu niềm tin vào Thiên Chúa là vì ta hay quên những gì Người thực hiện trên ta. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa yêu chuộng sự thinh lặng và âm thầm. Hẳn Người sẽ không bao giờ muốn chiếm đoạt niềm tin của chúng ta bằng những phép lạ hoành tráng, uy phong. Hãy đi vào trong cầu nguyện và chiêm ngắm, các bạn sẽ nghiệm ra được vô số các phép lạ Ngài làm trong cuộc đời mình. Hãy như Mẹ Maria, năng suy đi nghĩ lại trong lòng những gì xảy đến. Khi ấy, bạn sẽ thấy Chúa thật tuyệt vời biết bao, và dần dần niềm tin của bạn vào Chúa sẽ được củng cố.

Sự Bất Lực Của Con Người

Các bạn trẻ thân mến,

Vì một phút nông nỗi, Ađam và Eva đã đánh mất đi niềm hạnh phúc Địa Đàng. Ân huệ nguyên thủy đã không còn nữa. Họ đành phải sống hết kiếp con người trong đau khổ, mỏi mệt, cho đến khi trở về với tro bụi, nơi mà từ đó họ được dựng nên. Họ và con cháu đời sau phải đối diện với biết bao thăng trầm của cuộc sống mà không sao thoát ra được. Gia đình đổ vỡ, tương quan rạn nứt, phải làm nô lệ cho những hoàn cảnh và cảm xúc của mình.

Như một dấu chỉ mang tính định mệnh, ngay từ lúc sinh ra, con người đã chào đời bằng tiếng khóc, chứ không phải bằng tiếng cười hân hoan. Rồi sự sống cứ xoay vần theo nhịp: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già nua, rồi lại chết. Từ hư không, con người xuất hiện, rồi sau một khoảng thời gian ngắn ngủi được hít bầu không khí dưới bầu trời, con người lại trở về với hư không, như thể chưa bao giờ tồn tại. Trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi tại thế ấy, hạnh phúc và niềm vui chỉ như mây bay, còn bao khổ đau và lo lắng cứ chất chồng như núi. Kiếp con người, một kiếp sống âm u, tăm tối. Con người sinh ra rồi chết đi, để lại điều gì trên trần gian, có chăng cũng chỉ là những dấu vết của một thời nặng gánh mỏi mệt, đau xót. Có lẽ vì cảm nhận như thế nên nhiều người đã ví cái chết như một sự “an nghỉ”, một cuộc giải thoát, một giấc ngủ bình yên sau ngày dài bương chải những truân chuyên.

Có mấy ai trong chúng ta hoàn toàn thoát khỏi những vướng bận của bụi trần? Lúc nào trên vai ta cũng là những gánh trách nhiệm nặng nề. Ta lo có miếng cơm manh áo để tồn tại, rồi đến lo cho cha mẹ, cho gia đình, người thân. Xuân về, hạ qua, thu đi, đông đến, bốn mùa luân phiên thay đổi. Ta chờ hoài đến giây phút được an nhàn thong dong, nhưng chẳng bao giờ thấy. Lúc nào ta cũng có cảm giác như mình đang ở tha hương. Tận cõi lòng, ta khao khát tìm về một chỗ nghỉ ngơi, để tựa đầu, để than thản. Ta cứ mãi tìm hoài hết điều này đến điều kia để khỏa lấp tâm hồn mình, nhưng sao ta cứ luôn thấy thiếu. Khoảng trống trong tâm hồn vẫn cứ còn đó, gắn chặt với đời ta như bóng với hình. Ta muốn vươn dậy, muốn bay lên nhưng thân phận nhân sinh cứ kéo ghì ta xuống.

Ta buộc phải đối diện với những người ta không ưa, phải làm những điều ta không thích, trong khi người ta yêu mến cứ luôn mãi xa ta, chuyện ta muốn làm vẫn xa tầm tay với. Những tương quan làm ta hạnh phúc thì chẳng kéo dài được bao lâu, trong khi người làm mệt mỏi thì hằng hà sa số. Ta mang trên mình một thân xác diệu kỳ, nhưng cũng mong manh yếu ớt. Gió trở trời là đã cảm thấy có gì bất ổn. Những mầm mống bệnh tật như kẻ trộm chực chờ ta. Tâm trí ta được kết cấu hết sức tinh vi, nhưng chỉ cần một cú va chạm nhỏ, ta có nguy cơ trở thành một sinh vật vô tri không hơn không kém. Những mong ước của ta, có khi là rất chính đáng, bao lần được cuộc sống này thỏa mãn? Ngày với đêm vần vũ xoay, ánh dương lên rồi vầng nguyệt xuống. Tất cả vẽ lên một bức tranh bất định của lịch sử.

Nhìn ra xã hội, ta cũng thấy bóng dáng sự xấu hoành hành. Chuyện mua bằng mua cấp. Chuyện quay cóp để được điểm cao. Chuyện hối lộ để được trắng án. Chuyện có quyền thì chà đạp công lý. Chuyện có tiền thì đánh đổi cả lương tri. Nhiều khi ta cũng muốn làm cái gì đó để xây dựng cuộc đời, nhưng những nỗ lực của ta cứ như hạt cát nơi sa mạc mênh mông, như giọt sương sánh với đại dương rộng lớn. Chẳng mấy người còn tin vào tình thương, chẳng mấy ai còn tin vào tha thứ. Con người giải quyết những xung đột của nhau bằng súng đạn, bằng bạo tàn, chứ không cùng nắm tay nhau để gắn lại vết thương rạn nứt. Trước sự dữ đang hoành hành giữa thế gian, ta cảm thấy mình bất lực hoàn toàn. Phận ta, ta còn lo chưa xong, huống hồ gì chuyện thay đổi cả thế giới.

Thế nhưng, tuy sức mạnh của sự dữ lớn thật đấy, ta cũng không hoàn toàn bị mất hút. Giữa hàng vạn cây cổ thụ ngã xuống, vẫn có tỷ tỷ hạt giống âm thầm nảy sinh. Nhìn bề ngoài, ta cảm giác có vẻ như sự dữ đang thắng thế, nhưng thực chất, Thiên Chúa vẫn âm thầm hoạt động. Đích thực là tự sức chúng ta, chúng ta không thể làm được gì. Nhưng với sức mạnh của Thiên Chúa, ta hoàn toàn có quyền hy vọng vào một tương lai tương sáng. Dưới vực sâu của kiếp tro bụi, ta hãy ngước mắt nhìn về phía trời cao, kêu nài bằng tiếng than van ai oán nhất của cõi lòng, đánh thức dậy nơi Thiên Chúa lòng trắc ẩn của Ngài. Ta tin rằng Ngài sẽ hạ giới đến cứu chúng ta. Ta hoàn toàn có quyền dám mơ đến chuyện ơn trời sẽ xuống và làm bừng dậy nơi chốn bùn lầy đen tối và hôi tanh của thế gian những cánh sen tươi đẹp và thơm ngát. Đấy là niềm tin vào ơn cứu độ nơi Thiên Chúa của chúng ta. Chúng ta hãy dọn mình chờ Chúa đến bên đời ta.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

GIA TRƯỞNG VỚI THÁNG CÁC LINH HỒN

Đề Tài Gia Trưởng Tháng 11/2013

Kính thưa quý Gia Trưởng,

1. Tháng các Linh hồn đã về với chúng ta. Đây là tháng dành riêng cầu nguyện cho người quá cố, tháng khơi dậy ý thức về mầu nhiệm hiệp thông các thánh. Đồng thời cũng khơi dậy tâm tình hiếu thảo, biết ơn đối với các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân đã ra đi trước; từ đó chúng ta dâng lời cầu nguyện cho các ngài.

Read more...
Page 3 of 22