Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Oct 19th 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Mục Vụ Tu Đức

Tu Đức

Ngày hành hương cầu nguyện của Đức Thánh Cha và các vị lãnh đạo tôn giáo tại Assisi

ASSISI. Ngày 2-4-2011, Đức GM giáo phận Assisi cùng với các Bề trên Tổng quyền dòng Phanxicô đã công bố diễn tiến “ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công lý trên thế giới” do ĐTC Biển Đức 16 triệu tập tại Assisi vào ngày 27-10 năm nay.

Ngày 1-1-2011, ĐTC đã tuyên bố dành ngày 27-10 năm nay để kỷ niệm đúng 25 năm cuộc gặp gỡ lịch sử ngày 27-10-1986 do Đức Gioan Phaolô 2 triệu tập tại Assisi. Ngày kỷ niệm sắp tới được gọi là “Ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công lý trên thế giới” với chủ đề “Lữ hành chân lý, Lữ hành hòa bình”.

Trong cuộc họp báo các vị hữu trách cho biết phái đoàn hành hương gồm đại diện các Giáo Hội Kitô và các truyền thống tôn giáo khác cũng như một số nhân vật thuộc giới văn hóa và khoa học được mời. Giống như hồi năm 2002, đoàn sẽ khởi hành bằng xe hỏa từ Roma sáng ngày 27-10 cùng với ĐTC. Khi đến Assisi, các vị sẽ đi bộ đến Vương cung thánh đường Đức Mẹ các thiên thần do dòng Anh em hèn mọn Phanxicô (OFM) coi sóc. Tại đây các cuộc gặp gỡ trước sẽ được nhắc lại và đồng thời đào sâu đề tài của ngày hành hương gặp gỡ lần này. Một số trưởng phái đoàn và ĐTC sẽ lần lượt lên tiếng. Tiếp theo đó là bữa ăn trưa thanh đạm trong tinh thần huynh đệ, và liên đới với bao nhiêu người đau khổ, không được hòa bình. Sau đó là thời gian thinh lặng, suy tư và cầu nguyện.

Ban chiều, tất cả những người hiện diện tại Assisi sẽ đi bộ lên Vương cung thánh đường Thánh Phanxicô do Dòng Phanxicô Viện Tu coi sóc (OFM Conv.), dọc theo con đường lên dốc dài, tượng trưng hành trình của mỗi người trong việc tìm kiến chân lý và tích cực xây dựng công lý và hòa bình. Hành trình này sẽ diễn ra trong thinh lặng để mỗi người suy niệm và cầu nguyện.

Trước Vương cung Thánh đường thánh Phanxicô, sẽ diễn ra giai đoạn chót trong ngày, với lời long trọng tái quyết tâm xây dựng hòa bình.

Để chuẩn bị cho ngày hành hương và cầu nguyện trên đây, chiều ngày 26-10-2011 trước đó, ĐTC sẽ chủ sự một buổi canh thức cầu nguyện với các tín hữu thuộc giáo phận Roma. Các giáo phận và cộng đoàn trên thế giới cũng được mời tổ chức một buổi cầu nguyện tương tự.

Thông cáo cũng cho biết trong những tuần lễ tới đây, các vị HY Chủ tịch của 3 Hội đồng Tòa Thánh Hiệp nhất các tín hữu Kitô, Đối thoại liên tôn và Văn hóa sẽ nhân danh ĐTC viết thư cho tất cả những vị được mời. ĐTC cũng mời gọi các tín hữu Công Giáo cùng với ngài cầu nguyện cho buổi cử hành biến cố quan trọng này và ngài cám ơn tất cả những người có thể hiện diện tại quê hương của thánh Phanxicô để chia sẻ cuộc hành hương tinh thần này.

Thông cáo chung trên đây được công bố trong cuộc họp báo sáng 2-4-2011 dưới quyền chủ tọa của Đức TGM Domenico Sorrentino, GM giáo phận Assisi. Cùng được công bố còn có một thông cáo báo chí với chữ ký của Đức Cha và 5 cha Bề tổng quyền 5 ngành của dòng Phanxicô (OFM, OFM Conv., OFM Cap., TOR và OFS), qua đó, cùng với các nữ tu dòng thánh Clara thuộc bao nhiêu Đan viện ở Assisi và trên thế giới, các vị bày tỏ vui mừng và biết ơn vì quyết định của ĐTC Biển Đức 16 trở lại Assisi vào ngày 27-10 tới đây.

Sau khi nhắc đến tấm gương, chứng tá và sứ điệp của thánh Phanxicô Assisi, thông cáo khẳng định rằng: “Thế giới chúng ta vẫn còn bị nhiều chiến tranh và không thiếu những thái độ cuồng tín và bất bao dung, cả nơi các nhóm tín hữu thuộc nhiều tôn giáo khác nhau. Cần phải mạnh mẽ kêu lên rằng kinh nghiệm tôn giáo chân chính luôn có một tâm hồn và một sứ điệp hòa bình. Khởi hành từ thập giá Chúa Kitô, thánh Phanxicô và Clara làm chứng tá rạng ngời về điều đó.”

“Vì thế, chúng tôi cầu mong rằng sẽ có rất nhiều vị đại diện các tôn giáo nhận lời mời của ĐGH, như cách đây 25 năm, để cùng với ngài thực hiện một cuộc hành hương hòa bình và mang lại cho thế giới một tín hiệu hòa bình.”

“Giáo hội tại Assisi, với tất cả mọi thành phần của mình, đặc biệt là các tu sĩ Phanxicô thuộc hai Vương cung thánh đường Giáo Hoàng thánh Phanxicô và Đức Mẹ các Thiên Thần, một lần nữa chúng tôi tiếp đón biến cố, vui mừng chào đón họ. Các con cái nam nữ của Thánh Phanxicô và Clara rải rác trên thế giới sẽ tham dự một cách nào đó, ít là trong tinh thần, vào cuộc hành hương lý tưởng này.

“Chúng tôi cầu mong rằng 'tinh thần Assisi', hiểu như thế, sẽ tiếp tục chiếu sáng mạnh mẽ, với những sáng kiến đặc biệt để nhắc nhớ và linh hoạt tại Thành của thánh Phanxicô, biến nơi này thành một biểu tượng và một phòng thí nghiệm hòa bình. Chúng tôi quyết tâm đóng góp một cách hăng say nhất sự nâng đỡ và chứng tá cho mục đích này”. (SD 2-4-2011)

G. Trần Đức Anh, OP

CẢM THƯƠNG

Trước hoàn cảnh khốn khổ của người khác, nếu chúng ta cảm nhận được sự khốn khổ của họ bằng tình thương xót của ta, thì đó là cảm thương. Ta đau cái đau của họ. Ta khổ cái khổ của họ. Ta và họ có sự đồng cảm. Sự đồng cảm là một tình thương liên đới. Tình thương liên đới ấy có những rung cảm trong tim. Cả đến ruột gan nhiều khi cũng bị chấn động.

Cảm thương như thế là một phản ứng lành mạnh của con người lành mạnh.

Cảm thương như thế là một giá trị đạo đức.

Cảm thương như thế là một tiếng gọi của Chúa giàu lòng thương xót.

Để biết đáp lại tiếng gọi ấy, chúng ta nên nhớ lại những cách Chúa đã thực hiện để cảm thương nhân loại.

1. Cảm thương, nên cùng chịu chung thân phận

Sự cảm thương đầu tiên mà Chúa mạc khải cho chúng ta thấy là, sự Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế, mặc lấy thân phận con người.

"Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ ở giữa chúng ta" (Ga 1,14).

"Người sống trọn thân phận con người như chúng con, chỉ trừ tội lỗi" (Kinh Tiền Tụng CN VII TN).

Hơn nữa, "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.

"Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá" (Pl 2,6-8).

Tác giả thư gởi Do Thái viết: "Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội" (Dt 4,15).

Tự ý từ bỏ cuộc sống vinh quang, để cùng chịu chung thân phận hèn hạ khổ cực của con người, đó là một cách cảm thương, mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô.

2. Cảm thương, nên giải cứu con người khỏi khổ đau

Một phần đáng kể của bốn Phúc Âm là thuật lại sự Chúa Giêsu cảm thương trước cảnh khổ đau của con người, nên đã giải cứu họ.

"Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo, thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh tật của họ" (Mt 14,14).

Gặp hai người mù tại Giêrikhô, "Đức Giêsu chạnh lòng thương, sờ vào mắt họ. Tức khắc, họ nhìn thấy được và đi theo Người" (Mt 20,34).

Gặp đám tang người con trai của một bà goá thành Naim: "Chúa Giêsu trông thấy bà, liền chạnh lòng xót thương. Chúa nói: Bà đừng khóc nữa. Rồi Ngài lại gần, chạm vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: Hỡi người thanh niên, tôi bảo anh, hãy chỗi dậy. Người chết liền ngồi dậy và bắt đầu nói" (Lc 7,13-19).

Khi thuật lại phép lạ Chúa cho ông Ladarô sống lại, thánh Gioan viết: "Lòng Người thổn thức và xao xuyến" (Ga 11,33) và "Đức Giêsu đã khóc" (Ga 11,35).

Khi thấy đám đông không có gì ăn. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: "Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày và họ không có gì ăn. Thầy không muốn giải tán họ, để họ nhịn đói mà về, sợ rằng họ bị xỉu dọc đường" (Mt 15,32). Rồi, Đức Giêsu đã làm phép lạ lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá để nuôi hơn bốn ngàn người (x. Mt 34,39).

Khi các kinh sư và người Pharisêu bắt một người phụ nữ phạm tội ngoại tình đến trước Chúa Giêsu. Họ nói với Người là theo luật Maisen, người phụ nữ đó phải bị ném đá cho chết, Chúa Giêsu đã tìm cách cứu người phụ nữ đó vừa khỏi bị ném đá vừa khỏi tội. Chúa Giêsu cứu một cách nhẹ nhàng. Sau cùng Chúa nói với người phụ nữ đó một lời cũng rất dịu dàng: "Không ai lên án chị sao. Tôi cũng vậy. Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa" (x. Ga 8,3-11).

Chúng ta thấy tấm lòng Chúa Giêsu dạt dào tâm tình cảm thương. Cảm thương ấy được diễn tả bằng việc giải cứu những người khổ đau.

3. Cảm thương, nên chịu đau khổ thay

Chúa Giêsu phán: "Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên" (Ga 10,15). Sự hy sinh mạng sống mình của Chúa Giêsu đã được tiên tri Isaia diễn tả tỉ mỉ như sau: "Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong, đáng chúng ta nhìn ngắm. Dung mạo Người chẳng còn gì đáng chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mầm bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

"Sự thật, chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta...

"Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Người đã chịu sửa để chúng ta được bình an" (Is 53,3-5).

Kinh cầu "Chịu nạn" hồi xưa có một chuỗi dài kể ra những đau đớn Chúa Giêsu chịu trong cuộc thương khó. Sau mỗi câu kể lại, là lời "vì tội chúng tôi". Kẻ đọc người nghe nhận ra thấm thía ý nghĩa sự thương khó Chúa chính là để đền tội chúng ta.

***

Trên đây là một thoáng nhìn về vài cách Chúa cảm thương con người chúng ta. Nên nhìn và suy gẫm. Tất cả đều có liên quan đến chúng ta. Chúa ở trước mặt chúng ta. Mỗi người chúng ta nên đặt trước Chúa những tâm tình của mình.

Trước hết chúng ta cảm tạ Chúa đã cảm thương chúng ta. Chúng ta nhận ra những cảm thương đó. Đúng thực là Chúa đã cùng chịu đau khổ với chúng ta. Đúng là Chúa đã giải cứu chúng ta. Đúng là Chúa đã đền tội thay cho chúng ta. Chúng ta nhận ra những sự thực đó trong những trường hợp cụ thể của đời mình.

Cùng với việc cảm tạ Chúa, chúng ta không quên nhớ ơn nhiều người đã cảm thương chúng ta. Họ đã cùng chúng ta chịu khổ. Họ đã giải cứu ta. Họ đã đền tội cho ta.

Nhìn sang Hội Thánh, chúng ta ca ngợi Chúa vì bao người con Chúa đã theo gương Chúa mà cảm thương những người đau khổ. Họ đã chia sẻ thân phận với người đau khổ. Họ đã giải cứu người đau khổ. Họ đã đền tội thay cho người đau khổ.

Bên cạnh những việc cảm tạ, nhớ ơn và ca ngợi, chúng ta đừng quên sám hối. Trong bổn phận cảm thương, chúng ta đã có những thiếu sót, những lỗi lầm, những tội phạm. Chúa đã nói rất rõ: "Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi không làm điều tốt cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta" (Mt 25,45).

Sau cùng, chúng ta cầu xin Chúa thương đổi mới trái tim ta. Đừng để nó chai cứng, vô tâm, nhẫn tâm, nhưng xin cho nó trở nên tế nhị, nhạy bén, đầy tình cảm thương. Chúng ta không những cầu xin, mà chúng ta cũng còn có bổn phận phải đào tạo chính mình ta và những người thuộc về ta. Đào tạo nên những người biết cảm thương theo gương Chúa.

Thời sự hiện nay đầy những thảm hoạ gây chết chóc, đổ nát, hỗn loạn, sợ hãi lo âu. Cả thế giới bàng hoàng, sống tình liên đới. Nếu chẳng may có những người công giáo và những tập thể trong Hội Thánh vẫn dửng dưng, chỉ biết lo cho mình, không chịu điều chỉnh cuộc sống mình sao cho liên đới với những cảnh khổ của bao người xung quanh, thì sẽ là rất phản chứng. Thời nay phản chứng trong lãnh vực cảm thương sẽ rất hại cho danh dự bản thân và cho uy tín của đạo.

Lạy Chúa, xin thương giải cứu chúng con khỏi những sai lầm trong việc làm chứng cho lòng thương xót Chúa.

+ Gm. Gioan B. Bùi Tuần

Hành Đạo

Chúng ta đừng hỏi cộng đoàn đã giúp gì cho chúng ta, nhưng tự hỏi chính mình, chúng ta đã cống hiến được gì cho sự phát triển của cộng đoàn.

Abraham nói: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao? Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơđôm” (St 18,32).

Tổ phụ Abraham đã nài xin Chúa tha phạt cho hai thành Xơđôm và Gômôra. Abraham đã trả giá với Chúa: Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chúa sẽ không phạt họ: "Nếu Ta tìm được trong thành Xơ-đôm năm mươi người lành, thì vì họ, Ta sẽ dung thứ cho tất cả thành đó” (St 18,26). Abraham đã rút bớt dần tới con số 10 người: "Xin Chúa đừng giận, cho con nói một lần này nữa thôi: Giả như tìm được mười người thì sao?Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm” (St 18,32).Trong hai thành phố chỉ cần kiếm được 10 người tốt lành, Thiên Chúa sẽ không phạt cả thành.

Chúng ta sống là sống cùng và sống chung với người khác. Con người có tính hợp quần xã hội. Mỗi gia đình là một đơn vị nhỏ, đơn vị nhỏ kết thành nhóm hội và những nhóm nhỏ kết hợp trở thành những cộng đoàn lớn. Chúng ta là những thành viên xây dựng nên cộng đoàn. Sống tinh thần tương trợ, đoàn kết lẫn nhau là một mời gọi khẩn thiết để bảo trì truyền thống văn hóa và hạt giống niềm tin. Trong thế giới hội nhập, chúng ta nhận ra có nhiều giá trị khác biệt trong các nền văn hóa. Sống trong xã hội muôn mầu, muôn dạng, chúng ta không thể sống co cụm, đóng khung và tách biệt khỏi dòng sống cộng đồng nhân loại. Lời cổ nhân: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Giao lưu văn hóa giúp chúng ta mở rộng kiến thức và hội nhập đời sống. Giữ lấy cái tốt của mình và học cái hay của người.

Trong đời sống đạo cũng thế, mọi người trong cộng đoàn giáo xứ có cùng chung một đức tin, một niềm hy vọng và một cùng đích. Tuy dù khác biệt ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc và truyền thống nhưng chúng ta vẫn có thể chia sẻ với mọi người các giờ kinh phụng vụ, giờ cầu nguyện và cử hành thánh lễ. Mỗi thành viên trong giáo xứ đều có trách nhiệm và bổn phận góp phần xây dựng, bảo trì và thăng tiến cuộc sống chung của Giáo Hội. Không riêng người Việt Nam, hiện nay trên thế giới mở rộng sự di dân lan tràn khắp các quốc gia. Các nhóm dân tộc hòa đồng chung sống và cùng nhau kiến tạo một cuộc sống xã hội tốt đẹp hơn. Sau hơn 30 năm sống trên xứ người, chúng ta có rất nhiều kiểu mẫu cộng đoàn đã được thành lập. Có những cộng đoàn công giáo tách riêng, tự tạo cho mình một hướng đi, một cuộc sống tự lập riêng rẽ và bảo trì các sinh hoạt riêng. Có những cộng đoàn hòa nhập, liên kết với chương trình sinh hoạt chung và trở nên thành phần của giáo xứ. Có những cộng đoàn giữ được cả hai là vừa sinh hoạt với Giáo xứ vừa giữ những truyền thống đặc biệt của riêng mình. Mỗi kiểu mẫu cộng đoàn đều có những điểm tích cực và tiêu cực riêng.

Để giúp một cộng đoàn sinh hoạt sống động và hiệu qủa, chúng ta cần gắn kết với nhau trong mọi hoạt động thường ngày. Một cộng đoàn muốn phát triển tốt phải có các cộng tác viên đắc lực thường xuyên. Chúng ta thử suy nghĩ về bản thân mình, nếu muốn sống tốt và sống khỏe, chúng ta cần phải sinh họat, ăn uống, tập tành mỗi ngày. Ngày nào cũng phải ăn uống điều độ nhưng lâu lâu thêm vào những bữa tiệc thịnh soạn và những tụ họp tiệc tùng. Bữa ăn đơn sơ thường xuyên hằng ngày do vợ chồng nấu dọn mới là quan trọng. Của ăn hằng ngày sẽ nuôi dưỡng con người cả về tinh thần lẫn thể xác. Chính đây mới là chìa khóa của niềm vui và hạnh phúc.

Chúng ta đang sống trong đất nước tự do, đương nhiên chúng ta có quyền chọn lựa cách sống riêng của mình. Về cách hành đạo, không ai có quyền đòi hỏi chúng ta phải cộng tác, gom góp hay phải làm việc này việc kia. Nhưng khi chúng ta tự nguyện liên kết với nhau trở thành một cộng đoàn, mỗi người đều có bổn phận và trách nhiệm liên đới với nhau. Việc sống đạo và hành đạo là do tấm lòng yêu mến của mỗi người. Có người nói rằng họ thích sống và chơi với người ngoại quốc hơn là người Việt Nam. Đây là quyền tự do chọn lựa của mỗi người. Chúng ta biết mà trăm người trăm ý. Nhưng tục ngữ ca dao cũng nói: Có qua có lại mới toại lòng nhau. Sống trên đất khách quê người, chúng ta còn cần nương tựa nhau nhiều hơn nữa. Không chỉ vấn đề giao tế, công ăn việc làm mà còn cần đến tình người, tình đồng hương. Khi hữu sự chúng ta sẽ cần đến nhau để tìm sự nâng đỡ và chia sẻ.

Chúng ta nghĩ thế nào về sinh hoạt cộng đoàn, nếu mỗi năm chúng ta chỉ đi tham dự vài lần vào các dịp chính như lễ Giáng Sinh, Lễ Tết Nguyên Đán, Lễ Quan Thầy, Lễ Phục Sinh… Làm sao cộng đoàn có thể sống còn được qua những ngày mùa Đông tuyết giá lạnh lẽo hoặc những ngày mùa Hè oi bức nóng nảy. Quanh năm suốt tháng chúng ta cứ tìm đến những nhà thờ tiện nghi, gần gũi và thông thoáng để tham dự phụng vụ. Hằng năm chúng ta chỉ  tham dự những lễ lớn đông người có tổ chức tiệc tùng, văn nghệ, hát xướng và sinh họat, có khác gì một năm chúng ta chỉ đi dự những bữa tiệc lớn. Làm sao chúng ta có thể phát triển tốt được nếu không có những bữa tiệc nho nhỏ hằng ngày.

Nhìn vào mọi sinh hoạt của giáo xứ, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ một tổ chức nào cũng cần có những người nồng cốt. Nhóm nồng cốt sinh hoạt năng động, thường xuyên, trung tín và nhiệt tình. Nhóm này được kể như: Giả như tìm được mười người thì sao? "Chúa đáp: "Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm.” Có những việc rất ý nghĩa xảy ra hàng ngày ngay bên mà đôi khi chúng ta không nhận ra. Có những anh chị em tự nguyện đứng ra chịu trách nhiệm phục vụ không công cho cộng đoàn ngày này qua tháng nọ. Có các thầy cô giáo hy sinh thời giờ để hướng dẫn và dậy dỗ các con em. Các ca trưởng và ca viên hy sinh tập dượt để hát xướng phục vụ trong thánh lễ và cộng đoàn thường xuyên. Các thiện nguyện viên trong các ban ngành đoàn thể giúp sắp xếp, lau dọn và giữ trật tự hằng tuần. Có những việc không tên nho nhỏ nhưng thường xuyên đòi sự cố gắng hy sinh, nhiệt tâm và nhiệt tình làm cho cộng đoàn sống.

Một việc rất ý nghĩa là sự cộng tác của các em giúp lễ. Việc tuy đơn sơ nhưng góp phần tích cực cho việc cử hành phục vụ cách nghiêm trang và cung kính. Xứ tôi giúp, có nhiều em giúp lễ nhưng đặc biệt có hai cô, Dhariana bắt đầu giúp lễ khi còn học ở trường Trung học, nay đã ra trường Đại học và Sherry Ann sắp ra trường Cao học. Hằng tuần hai cô vẫn đến giúp lễ vui vẻ và giúp một cách trân trọng. Có lẽ các cô làm vì lòng yêu mến phục vụ và hưởng nếm sự gần gũi hơn trên cung thánh. Hoặc nhìn qua ca đoàn, số ca viên không đông lắm nhưng có số tuổi từ 15 đến 70 tuổi. Họ cùng tập và cùng chung lời ca tiếng hát phụng sự Chúa. Quả là hoa trái tốt đẹp. Thánh lễ mỗi tuần đều cần có ca đoàn hát xướng để tạo bầu khí cầu nguyện và mang lại sự sinh động phấn khởi cho mọi người. Nếu các ca viên chỉ chờ đến dịp lễ lớn mới đi tập hát thì suốt mùa quanh năm ai sẽ phục vụ đây.

"Vì mười người đó, Ta sẽ không phá huỷ Xơ-đôm”. Chúa sẽ tha cả thành nếu tìm được 10 người. Trong mỗi cộng đoàn còn có biết bao người đang hy sinh âm thầm cầu nguyện mỗi ngày. Những cụ ông, cụ bà già cả liệt lào không đến nhà thờ được vẫn có thể giúp sức cho cộng đoàn qua lời cầu nguyện. Chúng ta biết trong Giáo Hội có nhiều dòng tu chiêm niệm, các tu sĩ nam nữ dành cả cuộc đời trong nhà Kín để ăn chay và cầu nguyện cho các sinh họat của Giáo Hội. Những cụ già sống tại gia sẽ trở thành nguồn sống cho cộng đoàn giáo xứ qua lời cầu nguyện của mình. Các cụ có thể dâng lên Chúa những buồn bực, khổ đâu, cô đơn và chán chường. Đây sẽ là những hạt kinh thiêng liêng đẹp lòng Chúa . Nếu mỗi cộng đoàn giáo xứ có được những cụ già miệt mài trong đền thánh Chúa cầu nguyện cho con cái cháu chắt và mọi người thì tốt đẹp biết bao. Mẫu gương nguyện cầu của ông Simêon đã đón nhận và được ôm ẵm Chúa Hài Nhi (Lc 2,28) và bà Anna trọn đời sống thủ tiết ở trong đền thờ cầu nguyện (Lc 2,36).

Mỗi người chúng ta có tên trong số 10 người mà tổ phụ Abraham đã kỳ kèo với Chúa. Chúng ta đừng trao trách nhiệm cho người khác sống đạo giùm, nhưng mỗi người hãy góp công sức và nhất là góp mặt với nhau để cùng xây dựng cộng đoàn giáo xứ tốt đẹp hơn. Chúng ta đừng hỏi cộng đoàn đã giúp gì cho chúng ta, nhưng tự hỏi chính mình, chúng ta đã cống hiến được gì cho sự phát triển của cộng đoàn. Cộng đoàn giáo xứ càng phát triển tốt mỗi người chúng ta càng được thừa hưởng những ân huệ và hoa trái tốt. Ước chi mỗi thành viên trong cộng đoàn liên kết với nhau trong yêu thương để phục vụ và đem niềm an vui hạnh phúc đến cho mọi người.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng - Bronx, New York

Page 8 of 8