Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Oct 19th 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Mục Vụ Tu Đức

Tu Đức

Lời Đầu Xuân Mới: CỦA LỄ HY SINH

1. Dịp đầu Xuân mới này, tôi tha thiết xin Chúa ban cho tôi một Lời Chúa làm lộc Xuân. Lời Chúa như lộc Xuân, mà Chúa ban, được tôi coi như phương hướng tôi phải tập trung vào, để sống đức tin trong Năm Giáp Ngọ - 2014.

2. Chúa soi vào lòng tôi Lời Chúa sau đây: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).

3. Lời Chúa trên đây có nhiều ý nghĩa. Nhưng ý nghĩa nổi nhất, mà Chúa kêu gọi tôi hãy đón nhận, đó là: tôi hãy nên của lễ hy sinh như Chúa muốn. Cụ thể như sau:

a) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự làm mọi việc lành và chịu mọi khổ đau với tinh thần sám hối đền tội. Bởi vì tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót.

b) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự dâng đời mình với những hy sinh cụ thể, để cầu nguyện cho mọi người thân đã qua đời.

c) Hãy là của lễ hy sinh suốt đời, ở sự hiến dâng bản thân mình với  những hy sinh quảng đại, để phục vụ Hội Thánh và Quê Hương.

d) Hãy là của lễ hy sinh trong đời sống thường ngày ở sự phục vụ tình yêu Chúa đối với mọi người.

Thường ngày, khi phục vụ cho tình yêu tha nhân, tôi phải hy sinh nhiều, để biết tế nhị, nhất là trong bổn phận hiếu thảo, biết ơn và tình nghĩa. Thiếu hy sinh, tôi dễ có những xúc phạm đến người khác trong tư tưởng, lời nói và thái độ. Một chút xúc phạm nhỏ có thể gây nên thương tích lớn cho người khác. Hậu quả sẽ khôn lường.

e) Hãy là của lễ hy sinh trong những dịp khác thường đặc biệt, ở sự tôi phải sẵn sàng hy sinh trọn vẹn tất cả mạng sống mình vì mến Chúa và vì yêu thương người khác.

f) Hãy là của lễ hy sinh trong trường hợp khác thường không đặc biệt vẫn xảy ra, khi đối tượng tôi phải phục vụ là những người già cả, những người bệnh nạn, những người tật nguyền. Thường thì Chúa không đòi tôi phải hy sinh mạng sống tôi cho họ. Nhưng Chúa đòi tôi phải hy sinh, ít là ở mức độ nhân bản, để họ cảm thấy mình được kính trọng, được yêu thương, được nâng đỡ, nhờ đó mà họ nghĩ đến Chúa.

Ở đây, tôi xin tận tình cảm ơn những người đã hy sinh cho tôi và vì tôi. Nhờ họ, và qua họ, Chúa đã ban tôi sự sống và sự sống dồi dào (x. Ga 10,10).

Hy sinh nhiều, hy sinh cụ thể, hy sinh quảng đại, hy sinh quên mình, đó là dấu ấn Chúa muốn tôi đóng vào mọi của lễ tôi dâng lên Chúa.

4.

Sống như  một của lễ hy sinh sẽ làm cho đời tôi có một ý nghĩa cao quý. Bởi vì sống như một của lễ hy sinh sẽ đem lại nhiều ích lợi cao cả cho muôn vàn người.

Xưa, với 5 chiếc bánh và 2 con cá của một đứa trẻ, Chúa đã nuôi hơn hai ngàn người, mà hãy còn dư (x. Ga 6,1-15). Tương tự cũng thế. Với lễ vật hy sinh của một người hèn mọn, Chúa cũng sẽ nuôi được rất nhiều linh hồn. Bởi vì của lễ hy sinh của họ được gắn kết vào của lễ hy sinh của Chúa Giêsu là một lương thực vô cùng phong phú có sức cứu độ cho cả nhân loại.

5. Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy mang một xác tín huy hoàng. Đó là thấy mình có một tự do nội tâm vững chắc, chọn cho mình một hướng đúng, đi về với Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót. Niềm vui ấy sẽ đời đời bền vững trên thiên đàng là cõi Phúc vô cùng vô tận.

6. Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy là chấp nhận sống khó nghèo như Chúa Giêsu: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có nơi để gối đầu” (Mt 8,20). Sống khó nghèo không phải chỉ trong lãnh vực của cải, mà cũng trong lãnh vực chức quyền, danh dự, và trong lối sống.

7. Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh đòi tôi phải phấn đấu rất nhiều, không những để xa tránh tội lỗi và chống lại các thói hư tật xấu nơi tôi, mà còn để sống thực sự theo thánh ý Chúa. Một điều trong những sự Chúa muốn là tôi phải phấn đấu cam go để có thể vượt qua được những đau đớn, tủi nhục, cay đắng, thất vọng do thực tế cuộc đời gây nên cho tôi từ nhiều phía, kể cả từ phía lỗi lầm của tôi. Trong phấn đấu, tôi tin Chúa ở bên tôi.

8. Sống ơn gọi làm của lễ hy sinh như vậy là sống niềm hy vọng đầy vui mừng hạnh phúc: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết. Cũng không còn tang tóc và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Bởi vì “họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ” (Kh 21,3).

9. Tôi chắc chắn điều này: Trong năm Giáp Ngọ 2014, Chúa đợi chờ ở Hội Thánh Việt Nam ta nhiều của lễ hy sinh. Chính những của lễ hy sinh đó sẽ mang lại Mùa Xuân cứu độ cho Quê Hương chúng ta và cho muôn vàn người thiện chí, chân thành.

10. Tôi tin Chúa Giêsu, tôi theo Chúa Giêsu, nên tôi dâng mình làm của lễ hy sinh một cách trọn vẹn suốt cả cuộc đời, đó là hạnh phúc của tôi. Với hạnh phúc đó, tôi xin thân ái chia sẻ ơn gọi của tôi. Xin anh chị em thương cầu nguyện cho tôi.

Tôi tin rằng: Đón nhận ơn gọi làm của lễ hy sinh chính là đón nhận Chúa Giêsu của tôi.

Tôi cũng tin rằng: Với ơn gọi làm của lễ hy sinh, Chúa đang cứu tôi và cứu nhiều người khác khỏi những sự dữ gây hại cho phần rỗi.

11. Chúng ta hân hoan bước sang Năm Mới trong Chúa Giêsu là của lễ hy sinh vô giá, Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng xoá tội chúng ta, Đấng yêu thương chúng ta.

Vinh dự mà Chúa muốn ban cho chúng ta, khi bước sang Năm Mới này là: Được nên của lễ hy sinh theo Chúa Giêsu. Chúng ta có sẵn sàng đón nhận vinh dự đó không?

Dù đã sẵn sàng, dù chưa sẵn sàng, chúng ta cũng hãy cảm tạ Chúa đã thương yêu gọi chúng ta với những lời thân thiết nhất: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Thầy” (Mt 16,24).

Long Xuyên, ngày đầu Xuân Giáp Ngọ - 2014

+ Gm. Gioan B BÙI TUẦN

ĐỪNG LO, NĂM GIÁP NGỌ

Những ngày trước Tết, qua trang Tin nhanh (VnExpress), người ta đọc được nỗi lắng lo của đủ mọi thành phần xã hội. Nào là của công nhân phải xếp hàng rồng rắn lâu giờ đợi chờ mua vé tàu về quê ăn tết; nào là của địa phương như Phú Yên dẫu trúng mùa vẫn lo xa xin trung ương hỗ trợ lúa gạo. Xí nghiệp này phải lo tiền thưởng Tết; nhà vườn kia thấy trời rét lo hoa không nở làm sao kịp bán vụ mùa. Và cũng có nỗi lo của các vị lãnh đạo xã hội, mong sao cho mọi nhà có cái Tết bình yên, cả trong lãnh vực vệ sinh thực phẩm, an toàn giao thông lẫn lãnh vực an ninh xã hội. Tất cả đều là những nỗi lo chính đáng.

Nhưng hôm nay, mồng một Tết, Chúa Giêsu lại bảo “đừng lo”, như thể cứ thoải mái ăn Tết đi, rồi tự nhiên sẽ có tất cả. Chắc chắn không phải thế. Vậy phải hiểu lời “đừng lo” của Chúa Giêsu ở đây thế nào? Có nhiều cấp độ:

1. Ở cấp độ thực tiễn

“Đừng lo” không phải là không lo gì, mà là đừng lo vu vơ, nhưng biết lo những gì đáng phải lo và biết lo liệu sao cho những điều đó có thể được thực hiện. Thật vậy, khác xa thái độ “vô ăn vô lo” của trẻ thơ và càng khác nữa thái độ của những kẻ chỉ biết một việc làm là “làm biếng”, lời “đừng lo” của Chúa Giêsu gợi lên thái độ sống tích cực ngay từ việc nhận thức về trách nhiệm đến việc lượng giá tình hình điều kiện cũng như việc sắp xếp thực thi. Muốn có vụ thanh long bội thu không phải chỉ làm cọc, xuống gốc, tưới tắm là xong, rồi phó mặc cho thời tiết bất kể nắng mưa đêm ngày, mà nhà vườn còn phải nhọc công vun chăm, lên lịch thắp sáng đúng hạn cho cây trổ hoa và khi kết trái, còn phải diệt trừ sâu bệnh cũng như chăm chút cho trái tròn, tai vểnh, hai da, đẹp mầu. Đừng lo những gì vượt khỏi tầm tay, nhưng vẫn tiên liệu lo toan thực hiện những gì ở trong khả năng của mình. “Đừng lo” rốt cuộc lại là biết rõ phải lo điều gì, lo đến đâu, lo cách nào, để đạt được thành quả và để mình không bị quá tải hoặc bị nghiền nát bởi điều mình lo. Không nên lo âu phiền muộn hoặc lo lắng vu vơ, nhưng biết lo liệu tính toán và lo toan thực hiện, đó chẳng phải là một khía cạnh của khôn ngoan thực tiễn đó sao?

Như vậy trong lời dạy “đừng lo”, dù được phát biểu dưới hình thức phủ định, Chúa Giêsu kín đáo đề nghị cách giải quyết nỗi lo mang lại hiệu quả. Nếu có điều gì đáng phủ nhận, thì đó chính là kiểu khôn ngoan thực dụng, chỉ nhắm lợi lộc cá nhân mà chẳng quan tâm đến ai cũng như chẳng đếm xỉa gì đến lẽ phải. Đừng lo quá mức, quá đáng; đừng lo linh tinh, lung tung, nhưng biết điều hướng nỗi lo về nẻo thăng hoa tinh thần.

2. Ở cấp độ tâm linh

“Đừng lo” cũng là lời gọi mở sang lòng trông cậy. Ngày xưa cha ông Việt Nam chỉ sống nhờ nông nghiệp, mỗi nhà tùy điều kiện đều có thể sở hữu một số đất cấy cày trồng tỉa lúa thóc hoa màu. Nguồn sống là đó và cuộc sống cũng tùy thuộc vào đó. Năm nào trúng mùa có “của để của ăn” thì xóm làng mọi người hạnh phúc, còn năm nào thời tiết thất thường khiến mùa màng thất bát phải lấy “của ruộng đắp bờ” thì đói ăn là điều khó tránh khỏi. Vì thế nỗi lo đeo đẳng len lỏi vào trong bữa ăn hằng ngày và giấc ngủ hằng đêm. Chả thế mà người xưa dù nỗ lực làm việc vẫn có đó một khoảng tâm linh dành cho lời kinh trông cậy: “Lạy Trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp” (ca dao). Khó có thể bảo đây là một thái độ tôn giáo theo nghĩa hiện đại, nghĩa là có giáo lý, có tín đồ và có lễ nghi; nhưng từ sâu thẳm của vô thức đã là một thái độ tâm linh, nhận biết đời sống gắn liền với nỗi lo chính đáng, biết giới hạn của những phương tiện giải quyết và thường khi không thể tự giải quyết được, mà phải cậy nhờ vào sự hỗ trợ trên cao, dẫu sự hỗ trợ trên cao này chỉ là của Trời vốn được hình dung như cao xanh không xác định ngôi vị. Một thái độ tâm linh như thế, dù chưa phải là tôn giáo, nhưng đã là tình trạng chuẩn bị để khi Tin Mừng được rao giảng thì sẵn sàng đón nhận.

Trước đây, tủ sách “học làm người” của nhà xuất bản Phạm văn Tươi, dù chủ đích là học làm người nhưng đã lấy châm ngôn “Nỗ lực và cậy trông” như định hướng vươn lên. Có lẽ ở cấp độ tâm linh, đây cũng là hướng đi của lời “đừng lo” trong bài Phúc Âm.

3. Ở cấp độ niềm tin công giáo,

“Đừng lo” còn là lời cổ võ lòng tin tưởng phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng luôn muốn sự tốt sự lành cho mọi người. Loài vô tri vô giác như chim trời, hoa đồng nội còn được chăm sóc huống chi “con người là loài chỉ thua kém thiên thần một chút” (x. TV 8), phải không? Cách đặt vấn đề của Chúa Giêsu rất sát sườn và hình ảnh Người đưa ra rất cụ thể khiến lời dạy “đừng lo” trở thành một bài học quý giá trong thái độ sống, nhất là vào những lúc phải đối mặt với nỗi lo nhiều mặt như vào dịp Tết chẳng hạn. Lo chuyện này chuyện kia là điều không thể tránh trong kiếp phận con người, nhưng lo đúng hướng lại là điều phải học biết, học tập và học hành suốt đời sống đức tin. Như vậy “đừng lo” là đừng lo lắng thái quá kẻo phải hao phí sức lực hoặc hao tốn sức của, nhưng biết phải lo sao cho phù hợp lẽ công bình và tình bác ái với mình và với tha nhân, nhất là với tình yêu của Thiên Chúa.

Nhưng vượt trên những điều đặt con người trước nỗi lo, có một điều tín hữu phải chủ động ưu tiên lo liệu xây dựng và tính toán thực thi, như Chúa Giêsu nói rõ trong bài Phúc Âm, đó là “lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”, nghĩa là chăm lo chu toàn phận vụ kẻ làm con Chúa, nghĩa vụ thành viên trong Giáo Hội phù hợp với bậc sống, chức vụ làm người giữa gia đình và xã hội. Nếu Nước Thiên Chúa không ở đâu xa, mà ở trong lòng của mỗi người, thì bằng tình mến cũng như niềm thao thức sống tốt, sống đẹp, sống lành, sống thánh hằng ngày, mỗi tín hữu đã biết đảm lĩnh nỗi lo chính yếu trong đời một cách đúng hướng, và điều còn lại là xin phó thác nơi bàn tay quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, như lời Người đã hứa “còn mọi sự khác sẽ được ban cho sau”.

Tóm lại, lời “đừng lo” có thể hiểu ở ba cấp độ. Ở cấp độ thực tiễn, xin cho tín hữu với nỗi lo “cơm áo gạo tiền” gặp được nâng đỡ cần thiết để diễn tả đức tin cách lạc quan hơn; ở cấp độ tâm linh, xin cho mỗi người khi nỗ lực khẳng định bản thân vượt lên những nỗi lo lớn nhỏ, luôn hiểu rằng đi đôi với “miệt mài” còn có “may mắn” của ơn thánh để thêm trông cậy; và ở cấp độ niềm tin, xin cho mọi Kitô hữu đừng lo gì khác ngoài việc tìm kiếm Thiên Chúa là Đấng cho mình sự sống và ý nghĩa sống, còn kỳ dư là trọn niềm phó thác tin yêu.

Tết là dịp gia đình quây quần hạnh phúc, mừng chúc, hun đúc nghĩa sống Tin Mừng, nhất là trong năm “phúc âm hóa đời sống gia đình”. Đừng biến thời gian này thành dịp dị đoan mê lạc, cờ bạc rượu chè, xì ke ma túy, lãng phí xa hoa. Thánh Vịnh 37,5 bảo: Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay. Riêng tôi năm nay, cùng với những lời chúc đẹp lành cho ơn thánh, sức khỏe, phúc lộc và bình an, xin gửi đến mọi nhà một vần điệu vui:

Năm Giáp Ngọ, chúc vận đỏ: Tiền nặng giỏ, bạc đầy kho.

Trời ban cho, thêm tuổi thọ: Ngày ăn no, tối ngủ khò.

Gm. Giuse Vũ Duy Thống 

CHÚA ĐÃ CỨU TÔI

1. Đời tôi là một chuyến đi dài. Đi qua nhiều  năm tháng khác nhau. Đi qua nhiều vùng đất khác nhau. Đi qua nhiều trường dạy khác nhau. Đi qua nhiều chế độ khác nhau. Đi qua nhiều môi trường sống khác nhau. Đi qua nhiều biến động và biến loạn khác nhau.

Nét nổi bật nhất còn ghi đậm trong ký ức của chuyến đi đời tôi là tôi đã được Chúa cứu.

Chúa cứu tôi khỏi nhiều nguy hiểm.

2. Nguy hiểm lớn nhất là tội lỗi có thể dẫn tới hoả ngục. Chúa cứu tôi khỏi tội lỗi bằng nhiều cách như:

- Không phạm tội nhờ ơn Chúa.

- Trót phạm tội thì sám hối nhờ ơn Chúa.

- Tránh đàng tội nhờ ơn Chúa.

- Sửa lại những hậu quả do tội gây ra nhờ ơn Chúa.

3. Nguy hiểm cũng thuộc loại lớn là lối sống tuy không phải là tội lỗi, nhưng dễ làm cho con người mất đạo đức. Ở đây, tôi xin kể ra một số lối sống như thế.

4. Lối sống vội vã.

Lối sống vội vã là lối sống ưa thích bận rộn, vội vàng, tất bật. Đi nhiều, nói nhiều, làm nhiều, di chuyển nhiều, tiếp xúc nhiều, hoạt động nhiều, náo động nhiều, hăng say hướng ngoại, không có giờ cho suy tư và hồi tâm, nên nội tâm nghèo nàn trống rỗng.

Chúa cứu tôi khỏi lối sống đó, để đưa tôi vào lối sống thích gẫm suy, thích ngắm nhìn, thích nội tâm.

Một đề tài có tính cách triết học không thể nào suy nghĩ một cách vội vã được, phương chi lại luôn lao mình vào những hoạt động bề ngoài ồn ào, mà lại dám gọi là đi sâu, đi sát. Cuộc sống có biết bao đề tài chạm đến triết học.

Một đề tài có tính cách tu đức không thể nào nội tâm hoá được một cách vội vã, phương chi lại không lặng lẽ lắng nghe lời Chúa trong nội tâm một cách tập trung và khiêm tốn. Thế mà cuộc sống có biết bao đề tài chạm đến tu đức. Bỏ tu đức, bỏ nội tâm đang là hiện tượng phổ biến rất đáng sợ.

5. Lối sống thời sự.

Lối sống thời sự ở đây được hiểu là thói quen hằng ngày ham biết mọi thứ tin tức thời sự, coi các thứ tin tức thời sự như một thứ lương thực cần thiết bậc nhất. Nhiều người hiện nay ham đủ mọi thứ tin tức thời sự, trên đài, trên báo, trên mạng, trong dư luận, trong các thứ đồn thổi, các thứ bàn tán. Thời sự hiện nay không thiếu những dơ bẩn.

Chúa cứu tôi khỏi lối sống đó, để đưa tôi vào lối sống chọn lựa chất lượng xây dựng cuộc sống. Thời giờ có hạn. Tôi sẽ rất hời hợt, nếu với thời giờ có hạn đó, tôi chỉ mải mê theo dõi tin tức thời sự, coi tin tức thời sự như một thứ gì cần thiết làm nên giá trị con người của mình, mà quên rằng giá trị thực của con người phải được chắt lọc từ những môn học căn bản về chân thiện mỹ.

Tất nhiên, tin tức thời sự có những giá trị giúp ích nhiều cho cuộc sống. Nhưng tự nó mà thôi sẽ dễ đưa con người đến chỗ trôi nổi, mất phương hướng. Phải biết phán đoán đúng sai, tốt xấu, dựa trên những chân lý được dạy ở các môn học căn bản, chứ không ở trong các tin tức thời sự. Tin tức thời sự cho dù có phơi bày sự kiện một cách chân thành, vẫn có thể đi sai chân lý đạo đức. Bởi vì chân lý đạo đức nhiều khi không cho phép sự phơi bày chân thành đó đụng đến danh dự chính đáng của người khác, mà mình phải tôn trọng.

Chân lý đạo đức cũng đòi hỏi những gương sáng được trình bày, hơn là những gương xấu được nêu cao.

6. Lối sống tự mãn.

Lối sống tự mãn là coi những gì tốt mình đang có là đủ. Cũng là tự mãn khi coi mình là tốt hơn những người khác.

Chúa cứu tôi khỏi lối sống tự mãn, để đưa tôi vào lối sống luôn nhận thức mình là tội lỗi, yếu đuối, hèn mọn. Từ đó tôi biết mình phải phấn đấu không ngừng, để luôn luôn sống theo thánh ý Chúa, luôn luôn thuộc về Chúa, luôn luôn trở về với Chúa, luôn luôn cảm thấy mình cần được Chúa cứu.

Khi còn trẻ, tôi cứ tưởng đạo đức thánh thiện là do mình làm được nhiều việc lành phúc đức. Nhưng càng đi sâu vào tu đức, tôi càng thấy đạo đức thánh thiện cốt yếu là do mình biết đón nhận ơn Chúa. Nhận thức như thế đòi phải rất khó nghèo.

Khiêm nhường đón nhận các ơn Chúa đủ loại, nhất là khiêm nhường đón nhận chính Chúa. Người đến với tôi dưới nhiều hình thức. Đón nhận Người, khi Người đến dưới hình thức đau khổ, nghèo hèn không phải là việc dễ. Nhưng phải nhìn nhận rằng: được đón nhận Chúa, được gặp gỡ Chúa, dù trong hình thức đớn đau đến mấy, vẫn luôn là một hạnh phúc tuyệt vời. Đón nhận lửa yêu thương của Chúa là việc hết sức cần thiết đối với tôi. Tôi luôn rất cần được đón nhận sự tha thứ của Chúa và của mọi người.

7. Lối sống chủ quan.

Lối sống chủ quan là thói quen tự coi những chọn lựa của mình là đúng, tự coi những tư tưởng của mình là đẹp, tự coi những việc làm của mình là tốt, tự coi đường lối của mình là trúng hướng, tự coi mọi sự sẽ trôi chảy, tự coi là tương lai chẳng có gì xấu xảy ra đáng sợ, vv...

Chủ quan như thế rất có hại.

Chúa cứu tôi khỏi lối sống có hại đó, để đưa tôi vào lối sống tỉnh thức.

Tỉnh thức lắng nghe tiếng Chúa gõ cửa lòng tôi.

Tỉnh thức đón Chúa khi Chúa đến lúc bất ngờ.

Tỉnh thức nhận ra những sự ác giấu mặt.

Tỉnh thức đoán được những khốn khó đang tới.

Tỉnh thức ấy nẩy sinh ra những thao thức về những khát vọng và về những giới hạn của mình, để rồi biết khiêm nhường cậy tin vào Chúa và can đảm phấn đấu cho thánh ý Chúa được thể hiện trọn vẹn nơi bản thân người con bé mọn này của Chúa. Nhất là tỉnh thức vâng phục thánh ý Chúa. Đừng bao giờ cố chấp đòi Chúa phải theo ý riêng tôi. Đừng bao giờ quên sống bao dung theo gương Chúa.

8. Lối sống nguội lạnh.

Lối sống nguội lạnh là thói quen sống đạo theo hình thức, làm việc đạo cho có lệ, giữ đạo một cách máy móc, có đọc kinh, dự lễ, nhưng hồn thì để ở chỗ khác, có làm việc bố thì từ thiện, nhưng chỉ để lấy tiếng. Nói chung giữ đạo nguội lạnh là một lối sống đạo thiếu lửa trong tâm hồn. Thiếu lửa yêu mến Chúa thực. Thiếu lửa yêu thương con người thực.

Chúa cứu tôi khỏi lối sống nguội lạnh, để đưa tôi vào lối sống ấm áp nồng nàn. Đó là lối sống tập trung vào tình yêu, tình yêu của Chúa.

Tập trung vào tình yêu không phải là nói nhiều về tình yêu, cũng không phải là nghĩ nhiều đến tình yêu, mà là sống trong tình yêu, sống với tình yêu, sống cho tình yêu.

Lửa tình yêu là chính Chúa Giêsu. Người ở trong tôi. Một phần nào đó, tôi có thể nói: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi”. Đặc điểm của lối sống tình yêu này là sự dấn thân quên mình, để thăng tiến những người mình yêu, cho dù phải chấp nhận biến mình làm của lễ đền tội thay cho những người mình yêu. Tất cả đều được thực hiện một cách khôn ngoan của thánh giá Chúa, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

9. Trên đây là một chút chia sẻ về một số những gì, mà Chúa đã cứu tôi trong suốt hành trình cuộc sống 88 năm nay. Với tất cả tấm lòng biết ơn của tôi, tôi xin tuyên xưng Chúa Giêsu chính là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Chuộc loài người, Đấng Cứu Độ trần gian. Tôi xin làm chứng điều đó bằng những kinh nghiệm sống của chính đời tôi.

Cũng trong tâm tình biết ơn, tôi xin thân ái gởi lời cảm ơn tới tất cả mọi người đã cộng tác với Chúa trong việc cứu tôi.

Cuộc đời được cứu là một bài ca cảm tạ tình yêu bao la của Chúa giàu lòng thương xót.

Đề cập đến cuộc đời được cứu khỏi nhiều lối sống trên đây, tôi mong đây cũng là một gợi ý để chúng ta nghĩ đến nhiều lối sống không tốt khác đang phát sinh và phát triển, có nhiều khả năng làm cho đạo đức giảm sút một cách rất nguy hiểm.

Xin Chúa thương xót chúng con.

Long Xuyên, ngày 14  tháng 01 năm 2014

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Xét Mình Mùa Vọng: Tỉnh Thức Trước Nhiếu Lối Sống Nguy Hiểm

Để sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa và gieo niềm hy vọng cho mọi người, đòi tôi phải luôn tỉnh thức trước cuộc sống của mình. Khi xét mình trong Mùa Vọng, tôi thấy mình có khi tỉnh mà không thức, có lúc thức mà không tỉnh; hoặc tỉnh thức về những điều này nhưng lại mê muội về những điều kia… Do đó, có thể tôi đang rơi vào nhiều lối sống nguy hiểm:

- Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.
- Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.
- Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.

I. Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.

1. Quá chú trọng đến bản thân mình mà ít quan tâm đến tha nhân.
2. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung.
3. Chỉ làm những điều mình muốn làm mà không làm những điều mình phải làm.
4. Đòi hỏi người khác mà không hề đòi hỏi mình.
5. Góp phần xây dựng thì ít mà chê bai phê phán thì nhiều.
6. Ham quyền hành chức vụ mà không khiêm tốn phục vụ.
7. Phục vụ theo ý mình mà không theo nhu cầu của người khác.
8. Ưa chuộng và quí mến người này nhưng ghét bỏ và khinh thường người kia.
9. Cởi mở và vui vẻ với anh em này nhưng đóng kín và lạnh lùng với anh em khác.
10. Đặt nặng công việc mà coi nhẹ con người. (Lấy con người làm phương tiện).
11. Đặt nặng hiệu năng mà coi thường tính cách và ý hướng. (Bệnh thành tích).
12. Đòi hỏi có tự do mà không có khả năng sống tự chủ.
13. Khôn nhưng không ngoan, thẳng nhưng không khéo.
14. Phán đoán bên ngoài mà không tìm hiểu bên trong. (Nông cạn, hình thức)
15. Đánh giá mình và người khác dựa vào công việc, mà không dựa vào phẩm cách.
16. Biết lỗi mà không nhận lỗi; nhận lỗi mà không sửa lỗi. (Cố chấp)
17. Làm theo những gì mình nghĩ, mà không nghĩ về những gì mình làm.
18. Nhiệt thành mà thiếu khôn ngoan. (Chủ quan, nhẹ dạ).
19. Ham nghe người khác tâng bốc mà không muốn nghe sự thật. (tự lừa dối mình).
20. Muốn mọi người phải giúp mình nhưng mình chẳng giúp ai. (ích kỷ).

II. Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.

1. Đặt nặng hình thức, tổ chức bề ngoài, mà coi thường nội dung và đời sống bên trong.
2. Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại chẳng quan tâm.
3. Lao mình vào sự hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lùng, trống vắng.
4. Đặt nặng việc hưởng thụ, coi thường việc khổ chế.
5. Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì phớt lờ.
6. Lo được lòng mọi người mà không lo được lòng Chúa.
7. Chuyên chăm việc đời mà lười biếng việc đạo.
8. Phản ứng tự nhiên mà thiếu tinh thần siêu nhiên
9. Lo bồi dưỡng thân xác mà không lo bồi dưỡng tâm hồn.
10. Sống bác ái mà thiếu chân thật, sống chân thật mà thiếu bác ái.
11. Làm việc vì danh thơm tiếng tốt hơn là vì lòng yêu mến.
12. Tìm cách thay đổi mọi người mà không thay đổi chính mình.
13. Lo xây đắp tương lai mà không sống trọn giây phút hiện tại.
14. Muốn thành quả mà không muốn hy sinh.
15. Thực thi bác ái mà lại không sống công bằng.
16. Yêu mến Chúa mà không yêu mến anh em.
17. Theo đuổi ơn gọi mà không sống ơn gọi: lo tiến thân mà không hiến thân.
18. Nỗ lực sống trung thành nhưng lại thiếu trung thực.
19. Cầu nguyện một đàng, sống một nẻo.
20. Nhiều thiện chí mà không có hành động.

III. Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.

1. Biết nhiều thứ mà không biết mình.
2. Biết thì nhiều mà sống không bao nhiêu.
3. Biết chẳng bao nhiêu mà tự kiêu tự mãn.
4. Trí thức uyên thâm mà lại thiếu đức độ.
5. Chỉ đạt lý mà không thấu tình.
6. Làm việc mà không xem tình hình, không xét hậu quả.
7. Thông minh tài trí nhưng lại sống ích kỷ, hẹp hòi.
8. Học nhiều, đọc nhiều mà thiếu suy tư nghiền ngẫm.
9. Chỉ nghe biết mà không truy tìm, tra cứu, điều nghiên.
10. Nhai lại tư tưởng người khác mà không khai sáng tư tưởng mình.
11. Chỉ dựa vào sách vở và lý thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế.
12. Thấy chi tiết mà không thấy tổng quát.
13. Muốn động tay động chân mà không muốn động não.
14. Hiểu biết nhiều nhưng không biết điều chính yếu.
15. Hiểu biết nhiều nhưng không sát, không sâu.
16. Hiểu biết mau nhưng không nguồn, không ngọn.
17. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình phải biết.
18. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình không được phép biết.
19. Hiểu biết nhiều mà không biết sống yêu thương.
20. Hiểu biết sâu xa về nhiều thứ nhưng lại hiểu biết cạn cợt về Thiên Chúa.

Những lối sống trên đây luôn nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là tôi không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Sống tỉnh thức là nhận thấy nguy hiểm do sự thiếu quân bình và cân đối trong đời sống mình về mọi mặt. Chỉ một chút quá đà sẽ gây ra hư hại khó lường. Chỉ một chút hụt hẫng sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị ma quỷ khống chế và thống trị.

Thật vậy: “Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước” (Mt 12,44-45).

Lm. Thái Nguyên

MÙA VỌNG VỚI HAI HY VỌNG

1. Mùa Vọng, tôi có hai hy vọng. Hy vọng thứ nhất là hy vọng tôi biết đón nhận Chúa. Hy vọng thứ hai là hy vọng tôi được Chúa đón nhận tôi.

Hy vọng vẫn là hy vọng, nghĩa là chỉ trong ước mong. Còn điều tôi ước mong có được thực hiện hay không lại là chuyện khác.

Tôi rất lo cho sự thực hiện hai hy vọng trên đây của tôi. Nỗi lo của tôi có cơ sở Phúc Âm và thực tế lịch sử.

2. Trước hết, xin nói về hy vọng biết đón nhận Chúa.

Phúc Âm cho thấy nhiều người theo đạo Chúa thời Đức Giêsu Kitô xuất hiện, đã không biết đón nhận Người.

Thánh Gioan Tông đồ đã viết ngay trong “lời tựa” Phúc Âm của Ngài những câu đau đớn: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có. Nhưng thế gian lại không nhận biết Người

Người đã đến nhà mình, nhưng những người nhà lại chẳng chịu đón nhận Người” (Ga 1,9-11).

Thực là phũ phàng.

3. Sự thực phũ phàng đó lại xảy ra ngay tại Nadarét, là quê hương của Chúa Giêsu.

Thánh sử Luca viết: “Rồi Đức Giêsu đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, và đứng lên đọc sách thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:

Thần Khí Chúa ngự trên tôi,

vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi

để tôi loan báo Tin Mừng

cho người nghèo khó

...

Người bắt đầu nói với họ: Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe. Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.

Họ bảo nhau: Ông này không phải là con ông Giuse đó sao? Người nói với họ: Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình. Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Caphácnaum, ông cũng hãy làm tại đây, là quê hương của ông xem nào. Người trả lời: Tôi bảo thật các ông: Không một tiên tri nào được chấp nhận tại quê hương.

...

Mọi người trong hội đường đều phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực. Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,16-20).

Đồng hương của Chúa Giêsu không những không đón nhận Người, mà còn định tiêu diệt Người. Thực là một sự thực phũ phàng đầy đau đớn.

4. Sự thực phũ phàng đau đớn như thế lại đã xảy ra một cách độc ác ngay chính những người đứng đầu đạo Chúa thời Chúa Giêsu.

Thánh sử Marcô ghi lại một cách rõ ràng: “Hai ngày trước lễ Vượt qua và lễ không men, các thượng tế và kinh sư tìm cách dùng mưu để bắt Đức Giêsu mà giết đi.

...

Họ điệu Đức Giêsu đến vị thượng tế. Các thượng tế, kỳ mục và kinh sư đều tựu lại... Bấy giờ các thượng tế và toàn thể Thượng hội đồng tìm lời chứng buộc tội Đức Giêsu để làm án tử hình, nhưng họ không tìm ra...

...

Họ trói Đức Giêsu lại và giải đi nộp cho quan Philatô.

Các thượng tế sách động đám đông đòi ông Philatô lên án giết Đức Giêsu” (Mc 14,1-11).

5. Những chuyện phũ phàng đau đớn và ác độc trên đây không phải là không tái diễn trong lịch sử Hội Thánh dưới nhiều hình thức khác nhau, rải rác đó đây, nơi này nơi nọ.

6. Chuyện xua đuổi Chúa một cách quy mô có thể là không nhiều. Nhưng chuyện dửng dưng không đón nhận Chúa là chuyện phải nói là thông thường. Chúa phán: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa ra, thì Ta sẽ vào nhà người ấy” (Kh 3,20). Biết bao lần, tôi đã không tỉnh thức nghe tiếng Chúa gõ cửa lòng tôi. Biết bao lần, tôi nghe tiếng Chúa gọi, nhưng tôi đã không mở cửa lòng tôi ra, để đón Chúa.

Không đón Chúa đến với mình, đó là một thực tế đau lòng, mà tôi thấy đang xảy ra nơi nhiều người đạo Chúa.

Thực tế đau lòng đó cũng rất có thể đang xảy ra nơi tôi. Lạy Chúa, xin Chúa xót thương con.

7. Bây giờ, tôi nhìn sang hy vọng thứ hai của tôi, đó là hy vọng tôi được Chúa đón nhận.

Phúc Âm cho thấy điều này: Những điều Chúa Giêsu giảng dạy dưới mọi hình thức đều quy về mục đích đưa con người vào chính lộ dẫn về Nước Trời, nơi được hạnh phúc trường sinh bên Chúa.

Những ai đi vào chính lộ, phấn đấu làm điều phúc đức, tránh điều tội lỗi, bước theo Chúa đến cùng, sẽ được Chúa đón nhận vào thiên đường. Còn những ai làm theo ý riêng mình, không từ bỏ tội lỗi, không sám hối, trở về với Chúa, sẽ không được Chúa đón nhận. Những ai được Chúa đón nhận và những ai không được Chúa đón nhận đều đã được Chúa nói rõ trong Phúc Âm, nhất là trong nhiều dụ ngôn, đặc biệt là trong bài nói về ngày phán xét.

8. Phán đoán của Chúa rất công minh, và rất nhiệm mầu. Nhưng chắc chắn điều này là: Chúa ưa thích những ai khiêm nhường, chân thành, tin cậy vào Chúa và biết xót thương người khác, luôn tìm thực thi ý Chúa và biết sám hối. Tôi nhớ tới người phụ nữ tội lỗi (x. Lc 7,38-50) và người trộm cướp bị đóng đinh bên hữu Chúa (x. Lc 23,40-43).

Có thể nói tinh thần hưởng thụ, nếp sống thực dụng và thói quen đưa mình lên luôn là những cản trở khiến con người mọi nơi mọi thời không được Chúa đón nhận.

Lời Chúa phán sau đây làm tôi lo sợ: “Trong ngày ấy, nhiều  người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Nhưng, bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố vói họ: Ta không hề biết các ngươi là ai. Hãy xéo đi cho khuất mặt Ta, hỡi những kẻ làm điều gian ác” (Mt 7,22-23). Như vậy, tôi đừng có chủ quan tự mãn với những việc tôi làm, mà tôi tưởng là lành thánh. Bởi vì rất có thể khi tôi làm những việc đó, đã có pha mục đích khoe khoang, và trái ý Chúa.

9. Với vài suy nghĩ trên đây, tôi thấy Mùa Vọng của tôi sẽ là thời gian quý giá để rà soát lại hai hy vọng của tôi.

Tôi rà soát lại bên Đức Mẹ Maria và bà thánh Isave, là hai phụ nữ quan trọng trong mùa Vọng.

Đức Mẹ Maria đã đón nhận Chúa một cách rất khiêm nhường, phó thác. Còn Chúa, Chúa đã đón nhận Mẹ một cách bất ngờ với tình yêu thương xót, và đã làm nơi Mẹ những sự lạ lùng, vì danh Người là Thánh.

Bà thánh Isave đã đón nhận Chúa với lòng tin mãnh liệt và tâm tình cảm tạ khiêm cung. Còn Chúa, Chúa đã đón nhận Bà một cách tế nhị kín đáo với một chương trình cứu độ hết sức lớn lao.

Đức Mẹ Maria cưu mang Chúa Giêsu, bà Isave cưu mang thánh Gioan Baotixita. Cả hai phụ nữ cưu mang ấy đã rất âm thầm, nhưng đã cộng tác rất đắc lực với chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Ở bên Đức Mẹ Maria và bà thánh Isave, tôi trở thành bé nhỏ. Và tự nhiên, tôi hiểu bé nhỏ, khiêm nhường, nghèo khó, tin tưởng ở Chúa chính là những điều kiện cần, để sống mùa Vọng với hai hy vọng của tôi.

Nghèo khó, khiêm nhường, bé nhỏ, tin cậy ở Chúa là mấy nét căn bản của đời sống nội tâm Kitô giáo. Nếu thiếu đời sống nội tâm với những nét căn bản đó, tôi có thể sẽ chỉ còn là người của một cơ chế tôn giáo, chứ không là chứng nhân đích thực của đức tin.

Lạy Chúa, xin thương xót con.

Long Xuyên, ngày 25 tháng 11 năm 2013

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

SỐNG ĐỨC TIN VỚI NHỮNG GIỚI HẠN

1. Càng về cuối đời, tôi càng nhận thức rõ hơn về những giới hạn của mình, cách riêng là về 3 giới hạn sau đây.

2. Giới hạn về sự nhận biết ơn Chúa ban cho tôi.

Xưa, trên bờ giếng Giacóp, Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria rằng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban cho chị” (Ga 4,10). Với lời đó, Chúa Giêsu cho người phụ nữ thấy chị chưa thực sự nhận ra ơn Chúa ban cho chị.

Lời đó cũng nhắc bảo tôi là tôi chưa nhận biết đúng về tất cả những ơn Chúa đã ban cho tôi.

Ơn Chúa ban cho tôi rất nhiều, thuộc phần hồn và phần xác, trong mọi lãnh vực.

Nói theo ngôn từ Phúc Âm, những ơn Chúa ban cho tôi đủ loại đó có thể ví như những nén bạc, mà Chúa trao cho tôi, để tôi sinh lời (x. Mt 25,14-28). Tôi có dùng những nén bạc đó, để làm cho tôi nên người tốt, có lợi cho phần rỗi của mình và của người khác, cũng như cho Nước Chúa không?

Tôi phải lương thiện nhìn nhận rằng: Trong việc nhận ra ơn Chúa ban, tôi đã có nhiều giới hạn.

Biết bao lần, những niềm vui và những thành công thì được tôi nhìn nhận là ơn Chúa, còn những đớn đau và những thất bại thì không nhận là ơn Chúa, đang khi chính những đớn đau và những thất bại lại chính là cơ hội Chúa gởi tới để Chúa ban cho tôi những ơn cao quý.

Biết bao lần, những người giàu sang đến với tôi để tặng quà cho tôi, thì tôi cho là ơn Chúa ban, còn những người nghèo khổ đến với tôi để xin cầu cứu, thì tôi không cho là ơn Chúa, đang khi họ chính là địa chỉ chính xác Chúa đợi, để bất cứ sự gì tốt tôi làm cho họ, đều sẽ được Chúa kể như là làm cho chính Chúa.

Biết bao lần, Chúa gởi đến cho tôi những biến cố, những con người, những sự việc kêu gọi tôi sửa mình, để trở nên người đạo đức hơn. Nhưng tôi không quan tâm, vẫn dửng dưng, vẫn bỏ lỡ cơ hội.

Xưa, Chúa Giêsu đến với các người đồng hương, rao giảng Tin Mừng, nhưng họ không nhận ra Người là Tin Mừng, họ xua đuổi Người.

Xưa, Chúa Giêsu trừ quỷ và làm nhiều phép lạ, để làm chứng Người là Tin Mừng cứu độ. Nhưng bao người có đạo thời đó, chính các thượng tế và Thượng Hội Đồng cũng không tin nhận Người, thậm chí còn tìm cách giết Người.

Rất có thể, Chúa Giêsu cũng đang đến giữa lịch sử hôm nay và đang làm nhiều phép lạ. Nhưng biết đâu nhiều người, trong đó có tôi, vẫn không nhận ra Người.

Giới hạn trong sự nhận ra ơn Chúa luôn vẫn mãi tồn tại. Biết đâu giới hạn đó nơi tôi đang trong tình trạng trầm trọng.

4. Một giới hạn nữa nơi tôi cũng có thể trong tình trạng trầm trọng, đó là giới hạn về sự khôn ngoan.

Phúc Âm dạy tôi phải rất khôn ngoan. Khôn ngoan trước hết là trong những ưu tiên phải chọn cho đời mình.

Ưu tiên lo cho phần rỗi linh hồn. Chúa phán: “Được mọi sự thế gian, mà mất linh hồn, thì nào được ích gì?” (Mt 16,26).

Ưu tiên biết sợ Chúa. Chúa phán: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy biết sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác anh em trong hoả ngục” (Mt 10,28).

Ưu tiên thực thi ý Chúa. Chúa phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).

Thêm vào sự khôn ngoan về chọn ưu tiên, Chúa cũng đòi phải khôn ngoan trong thái độ sống:

Chúa phán: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói. Anh em phải khôn như con rắn và đơn sơ như chim bồ câu” (Mt 10,16).

Phúc Âm cho thấy: Cũng là việc rao giảng, cũng là việc làm phép lạ chữa bệnh, cũng là việc trừ quỷ, nhưng Chúa Giêsu có lúc làm những việc đó ở nơi này mà không làm ở nơi khác, có lúc làm ở thời điểm này, mà không làm ở thời điểm khác. Đó là bài học về sự khôn ngoan trong thái độ sống.

Một bài học nữa Chúa dạy tôi về sự khôn ngoan trong mục vụ. Chúa phán: “Ách tôi thì êm ái, và gánh tôi thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Với lời đó, Chúa muốn những môn đệ Chúa đừng bao giờ làm cho bất cứ ai lầm tưởng: Theo đạo Chúa là phải mang lấy những gánh nặng, nhưng trái lại sẽ cảm thấy cuộc sống đạo là êm ái, là nhẹ nhàng. Sự khôn ngoan đó trong mục vụ của Chúa luôn cảnh giác tôi về các thứ mục vụ chồng chất những gánh nặng về luật lệ không cần thiết.

Giới hạn về sự khôn ngoan nơi tôi là thế nào? Tôi nhìn nhận là có nhiều. Nếu tôi không thận trọng, giới hạn đó cũng có thể trở nên nguy hiểm.

5. Giới hạn nguy hiểm nữa nơi tôi là giới hạn về sự tỉnh thức.

Từ ít lâu nay người ta nói nhiều đến dấu chỉ thời đại. Dấu chỉ thời đại thường là những khác thường xảy ra trong lịch sử, thí dụ sự kiện Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Phanxicô xuất hiện kéo chú ý nhiều người về cải cách trong lãnh vực đạo đức, mục vụ và truyền giáo. Rất nhiều người nhìn Ngài mà hiểu về hướng thời đại.

Xưa Chúa Giêsu phán với các người Pharisêu và Sađốc rằng: “Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điểm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi” (Mt 16,3). Nếu tôi không cố gắng, tôi cũng sẽ bị Chúa trách như thế.

Một tỉnh thức nữa, tôi rất sợ tôi cũng có nhiều giới hạn, đó là tỉnh thức về bổn phận liên đới.

Chúa dạy tôi về bổn phận liên đới trong dụ ngôn người phú hộ và người ăn mày Ladarô (x. Lc 16,19-31). Nhà phú hộ hưởng thụ tối đa những gì ông có, như địa vị cao sang, của cải dư thừa, bạn bè quý tộc, với những tiệc tùng ngày nọ sang ngày kia. Đang khi đó, ngay ở cửa nhà ông, có một người ăn mày nằm đó, bệnh tật, đói khổ, cô đơn. Nhà phú hộ coi mình như không có bổn phận gì với người ăn mày đó. Nhưng, sau khi chết rồi, Chúa xét xử ông rất công minh về bổn phận liên đới của ông với người ăn mày. Ông bị ném xuống hoả ngục, đời đời sẽ phải ở đó.

Dụ ngôn trên đây đòi tôi phải tỉnh thức rất nhiều về bổn phận liên đới của tôi với những người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn xung quanh tôi.

Một tỉnh thức nữa, mà Chúa hay nhắc tôi trong Phúc Âm là tỉnh thức đón giờ Chúa gọi về đời sau. Có thể sẽ có những bất ngờ. Nếu không tỉnh thức, tôi sẽ phải lãnh lấy những hậu quả khủng khiếp đời đời.

Nhưng từ đây đến khi chết, tôi sẽ gặp nhiều bất ngờ, trong đó có những bất ngờ đau đớn và khủng khiếp. Nếu tôi không tỉnh thức, những bất ngờ đó có thể sẽ tàn phá đời tôi và tương lai của Hội Thánh.

6. Tôi xin tạm dừng ở đây, để cảm tạ Chúa đã cho tôi thấy những giới hạn của tôi. Cảm tạ đi đôi với sám hối. Tất cả đều dựa trên đức tin.

Tôi tin ở Chúa, mà không có giới hạn nào. Tin như trẻ thơ trong lòng người mẹ, người cha của mình. Tin tuyệt đối, tin vững vàng.

Tin của tôi là gặp gỡ Chúa Kitô, vâng lời Người là gắn bó mật thiết với Người. Tin của tôi là dấn thân bước theo Chúa Kitô sống yêu thương phục vụ.

Tin của tôi là phó thác mình cho Chúa với nhận thức mình tội lỗi, yếu đuối, hèn hạ và với xác tín Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.

Lạy Chúa, xin xót thương con.

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

HÃY BƯỚC RA KHỎI MỒ

1. Tôi còn sống. Nhưng tôi đã thấy nơi sẽ chôn xác tôi. Một ngày nào đó, ngôi mồ ấy sẽ là nơi ở sau cùng của tôi.

Nhưng, tôi tin, đến ngày phán xét chung, tôi sẽ được ra khỏi nơi ấy, theo lệnh của Chúa. “Hãy bước ra khỏi mồ”.

2. Nhưng ngay bây giờ, tôi vẫn thường nghe trong lòng tôi lời Chúa gọi: “Hãy bước ra khỏi mồ”. Dần dần, tôi hiểu lời gọi đó có ý nghĩa thiêng liêng. Nghĩa là, trên đời này, có những ngôi mồ vô hình. Chúng muốn chôn sống tôi. Phải canh chừng, đừng để mình bị rơi vào đó. Nếu chẳng may, đã bị rơi vào đó rồi, thì hãy tìm cách bước ra.

“Hãy bước ra khỏi mồ”. Tôi nghe, tôi hiểu, và tôi thưa với Chúa: “Xin Chúa thương cho con thấy rõ sự ác nào đang là mồ đe doạ con”. Chúa dạy tôi qua Lời Chúa và qua thực tế.

3. Sự ác thứ nhất đóng vai mồ chôn sống con người là đạo đức giả.

Chúa Giêsu phán: “Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh sư và Pharisêu giả hình. Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ thối tha. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt 23,27-28).

4. Sự ác thứ hai đóng vai mồ chôn sống con người là lười biếng.

Trong dụ ngôn những nén bạc, ông chủ khen thưởng những đầy tớ biết dùng những nén bạc chủ trao gởi, để sinh lời. Còn người đầy tớ không làm ra lời nén bạc được trao, đã bị phạt. Chủ gọi đầy tớ đó là tồi tệ, biếng nhác, và vô dụng, bị ném vào nơi tối tăm (x. Mt 25,24-30).

5. Sự ác thứ ba đóng vai mồ chôn sống con người là tính ích kỷ, không chịu cứu giúp những người cùng khổ.

Trong bài giảng về cuộc Phán xét chung, Chúa sẽ quyết liệt với những ai ích kỷ, không chịu thương cứu những người đau khổ. Chúa phán: “Mỗi lần các ngươi đã không làm như thế (tức là cứu giúp) cho một trong những người bé nhỏ nhất, là các ngươi đã không làm cho chính Ta... Thế là họ sẽ bị cực hình muôn kiếp” (Mt 25,41-46).

6. Sự ác thứ bốn đóng vai mồ chôn sống con người là sự quá tìm hưởng thụ ở giàu sang.

Chúa Giêsu đã phán: “Các con ơi, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa” (Mc 10,25).

7. Sự ác thứ năm đóng vai mồ chôn sống con người là sự phô trương, ham thích được ca tụng khi làm các việc lành.

Chúa Giêsu đã nói rất rõ về những người cầu nguyện, ăn chay, bố thí, mà ham muốn được người ta khen ngợi. Họ sẽ bị Chúa loại bỏ. Vì: “Chúng đã được thưởng công rồi” (x. Mt 6,2.5.16).

8. Sự ác thứ sáu đóng vai mồ chôn sống con người là kiêu ngạo, không nhận mình là kẻ tội lỗi.

Chúa phán với các Pharisêu: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây, các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41).

9. Nhận ra 6 sự ác trên đây đang đóng vai mồ chôn sống con người, tôi sợ cho tôi. Tôi nói nỗi sợ đó của tôi cho một số người. Phần đông họ đều khuyên tôi không nên sợ. Cứ sống sao cho thoải mái, vui vẻ. Đừng quá sợ những rủi ro có thể xảy ra ở đời sau.

Chúa liền soi sáng cho tôi thấy: Không biết sợ những gì sẽ xảy ra đời sau, đó là một sự ác rất nguy hiểm đóng vai mồ chôn sống tôi. Và chính đó là tinh thần tục hoá đang phá hoại đức tin hiện nay.

Nếu vậy, thì tinh thần tục hoá, không biết sợ Chúa, sẽ là sự ác thứ 7 đóng vai mồ chôn sống tôi.

Với tất cả tấm lòng tin cậy, tôi xin Chúa cứu tôi. Xin Người thương giúp tôi bước ra khỏi những mồ chôn sống tôi, nếu thực sự, một cách nào đó, tôi đang bị chôn trong những mồ ấy.

10. Chúa hứa là Chúa sẽ cứu tôi. Nhưng tôi phải cộng tác vào ơn Chúa cứu. Bằng những việc sau đây. Tôi xin được rất vắn gọn.

1) Tôi phải cầu nguyện nhiều. Cầu nguyện ở đây cốt yếu là gặp gỡ Chúa, xin ơn vâng phục thánh ý Chúa, để thuộc về Chúa, để được về với Chúa. Khi cầu nguyện, tôi phải tin cậy vô điều kiện ở lòng thương xót Chúa. Tôi thường nói với Chúa rằng: Xưa ông Ladarô chết, chôn trong mồ, đã bốc hôi thối, thế mà Chúa cũng vẫn làm cho ông sống lại, bước ra khỏi mồ. Nay, con dù cũng đã hư thối, con tin Chúa cũng dư sức làm cho con sống lại, bước ra khỏi mồ. Tôi cầu xin trong tâm tình kết hợp với Thánh Linh.

11. 2) Tôi phải sám hối nhiều. Sám hối của tôi chủ yếu là giục lòng yêu mến Chúa nhiều hơn. Đồng thời, cũng xin chịu những đau đớn xảy ra, để đền tội. Sám hối đòi phải cậy tin ở lòng thương xót Chúa. Như đứa con hoang đàng trở về với Cha. Nhất định sống xứng đáng người con của Chúa, theo gương mẫu Chúa Giêsu, sẵn sàng phấn đấu để nên người mới. Tôi thường nói với Chúa: Con tội lỗi lắm. Xin Chúa đừng bỏ con.

12. 3) Tôi phải cậy nhờ ở nhiều người khác, xin họ thương cứu giúp tôi. Chúa cứu tôi, nhưng rất nhiều lần Chúa dùng những con người để thực hiện việc cứu đó. Sự cậy nhờ người khác chính là một việc khiêm nhường trong tình liên đới, có sức chữa lành nhiều thứ bệnh tâm hồn. Đặc biệt tôi phải nhờ đến những người đạo đức, thực sự sống dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Họ là bậc thầy của tôi.

13. 4) Tôi phải góp phần cứu người khác trong mọi trường hợp, mà tôi có thể cứu họ.

Cứu người khác chính là một cách tôi bước ra khỏi mồ chôn tôi. Cứu người khác là cả một sự mở ra quảng đại tấm lòng của mình. Cho dù mình rất bị giới hạn về của cải vật chất, nhưng vẫn có thể giàu về tâm hồn, để mà cho đi. Nhất là cho đi niềm hy vọng về Tin Mừng ở Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Tôi cứu họ do ơn gọi được sai đi. Tôi cho đi ít, mà nhận được nhiều.

14. 5) Tôi phải khiêm tốn đợi chờ giờ Chúa đến cứu. Chúa thường đến bất ngờ, và cứu bằng những cách bất ngờ. Rất nhiều khi bằng cách kín đáo, chỉ như một sự hiện diện thân thương. Tôi đợi chờ Chúa, để mà tạ ơn, để mà yêu mến, để mà phó thác. Đôi khi Chúa đến cứu tôi bằng cách cho tôi thấy những sự thực đau đớn. Như hình ảnh sau đây, mà thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã viết: “Đến ngày phán xét chung, chúng ta sẽ thấy nhiều tông đồ giống như những cây sến đẹp đẽ, cành rộng phủ bóng xa, chim trời xuống làm tổ ở đó. Nhưng chúng ta sẽ thấy gì trong ngày phán xét? Chúng ta sẽ thấy bên trong những cây đó đã bị rỗng, do mối mọt kiêu ngạo và thích hư danh đục khoét”.

15. Theo kinh nghiệm của tôi, mồ nguy hiểm nhất đang chôn sống nhiều người công giáo chúng ta, chính là tính tự mãn và chủ quan.

Tự mãn và chủ quan đang phát triển mạnh và công khai như một đức tính tốt tại nhiều cá nhân và cộng đoàn. Y hệt như thời đạo cũ, lúc Chúa Giêsu xuống thế làm người rao giảng sự cải cách. Do tự mãn và chủ quan, chính những người có đạo thời đó đã giết Chúa Giêsu.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con biết cầu nguyện và tỉnh thức, để có thể đón nhận ơn Chúa cứu độ, mà Chúa dành cho những kẻ khiêm nhường bé mọn.

Xin Chúa thương giúp cho việc đào tạo trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay đem lại cho đồng bào Việt Nam những chứng nhân về sự thánh thiện của Chúa Giêsu khó nghèo, khiêm tốn và yêu thương quên mình, dồi dào sức sống nội tâm, như một của lễ tình yêu hiến dâng cho Chúa, vì phần rỗi các linh hồn.

Long Xuyên, ngày 3 tháng 11 năm 2013.

+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Hội Nghị Thường Niên 2013 Liên Hiệp Bề Trên Thượng Cấp Việt Nam

K’Long, Đà Lạt  –  05-06-07/11/2013

Hội nghị thường niên Liên hiệp Bề trên Thượng cấp Việt Nam năm 2013 được tổ chức tại Trung tâm Don Bosco K’Long, thuộc giáo phận Đà Lạt từ ngày 05 đến ngày 07 tháng 11 năm 2013, với chủ đề: “Quyền bính và quản trị trong đời sống Thánh hiến”.

1. Có 137 đại biểu tham dự là các Bề trên và đại diện Bề trên thuộc các đơn vị Dòng tu, Tu hội, Tu đoàn Tông đồ trong toàn quốc.

Read more...

TRỞ NÊN GÁNH NẶNG

1. Cuối cuốn “Tự Thuật”, thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã viết: “Lạy Chúa, xin đừng để con trở nên gánh nặng cho Nhà Dòng”.

Lời cầu đó rất chân thành. Chỉ vì yêu mến các chị em, và không muốn Nhà Dòng phải tốn tiền, tốn giờ, tốn sức vì mình, nên Têrêsa đã cầu xin Chúa đừng để mình bao giờ trở nên gánh nặng cho cộng đoàn.

Read more...

Đức Thánh Cha kêu gọi các vị lãnh đạo tôn giáo kiến tạo hòa bình

“… người ta cảm thấy khó ra khỏi chân trời chật hẹp của tư lợi để cởi mở đối với một cuộc đối chiếu chân thành và thực sự. Để có hòa bình cần có một cuộc đối thoại kiên trì, bền chí, mạnh mẽ, thông minh, không để mất mát một sự gì. Đối thoại có thể chiến thắng chiến tranh. Đối thoại là cho những người thuộc các thể hệ khác nhau và thường cố tình không biết nhau, nay biết sống chung với nhau…”

Read more...
Page 2 of 8