Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Oct 19th 2017
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Đoàn Thể & Phong Trào Công Giáo Tiến Hành

Công Giáo Tiến Hành

HÃY RA KHỎI MỒ

Một người đã chết, đã được an táng, đã chôn trong mồ. Nhưng đã được Chúa Giêsu cho sống lại. Người đó là ông Ladarô. Xin trích lại ở đây vài chi tiết được ghi trong Phúc Âm thánh Gioan: "Đức Giêsu đi tới mộ. Ngôi mộ đó là một cái hang có phiến đá đậy lại. Đức Giêsu nói: Đem phiến đá này đi. Cô Mácta là chị người chết liền nói: Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày. Đức Giêsu bảo: Nào Thầy đã chẳng nói với con rằng nếu con tin, con sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa sao? Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện... Rồi, Người kêu lớn tiếng: Ladarô, hãy ra khỏi mồ. Người chết liền đi ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giêsu bảo: Cởi khăn và vải cho anh ấy, để anh ấy đi" (Ga 11,38-44).

Read more...
 

ĐỪNG VÔ CẢM

Vô cảm là một tiêu cực tồi tệ trong đạo đức. Vô cảm thuộc về cái tâm. Cái tâm thuộc về tâm linh, nhưng được diễn tả ở trái tim, nên hay gọi là trái tim cho dễ hiểu.

Người vô cảm là người có trái tim chai cứng.

Hậu quả của vô cảm trong đạo đức là rất nghiêm trọng. Xin đưa ra vài cảnh báo của Chúa được ghi trong Phúc Âm.

1. Hậu quả khủng khiếp của vô cảm trong đạo đức

Về vô cảm trước những khổ đau của người khác, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn ông phú hộ và người ăn mày Ladarô. Ông phú hộ hưởng cuộc đời sung sướng. Người nghèo khó Ladarô thì ngồi ăn xin ở cổng nhà ông phú hộ. Ladarô vừa nghèo, vừa bệnh tật. Ông phú hộ không thể không biết người ăn mày đó ngày đêm ở cổng nhà ông. Nhưng ông vô cảm. Sau cùng, người nghèo khó Ladarô chết. Ông được đưa lên thiên đàng. Ít lâu sau, ông phú hộ cũng chết. Ông bị ném xuống hoả ngục. Hình phạt rất khủng khiếp. Đâu có ngờ!

Về vô cảm đối với tình yêu Chúa, Chúa Giêsu đã nói về thành Giêrusalem: "Giêrusalem, Giêrusalem, đã bao  lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu. Thì này, nhà của các ngươi sẽ bỏ mặc cho các ngươi" (Lc 13,34).

Lần khác, Chúa Giêsu nhìn Giêrusalem mà khóc. Người nói: "Sẽ không còn hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm" (Lc 19,44). Hình phạt rất nặng nề. Đâu có ngờ!

Về vô cảm trước sự không theo ý Chúa, Chúa Giêsu nói rõ: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác" (Mt 7,21-23). Họ bị kết án, vì họ đã nhân danh Chúa mà làm những việc lành để tìm lợi riêng, chứ không thực sự để làm sáng danh Chúa. Án phạt thực đau đớn. Đâu có ngờ!

Nguy cơ của vô cảm sẽ tăng lên, khi nó phát triển theo hướng phạm thêm tội lỗi.

2. Phát triển phức tạp của vô cảm

Người vô cảm trước tiếng gọi của bổn phận mến Chúa yêu người, lại hay che giấu lỗi lầm của mình bằng lối sống đạo đức giả.

Phúc Âm nói về họ như những người thích vẻ đạo đức bề ngoài. Họ giữ luật kiêng việc ngày Sabat, không ngồi chung bàn với những người tội lỗi, rửa tay trước khi ăn. Họ tỏ ra bén nhạy, hăng say và tỉ mỉ với những hình thức đạo đức như thế. Mục đích chính là gây uy tín.

Lối sống đạo đức bề ngoài đó dễ lây lan. Đông người trở thành nhóm. Nhiều nhóm làm nên giai cấp. Khi giai cấp có quyền lợi riêng và luật lệ riêng, nó sẽ trở thành cơ chế. Cơ chế như thế là một quyền lực. Nó lèo lái, hướng dẫn dư luận, nhiều khi áp đảo.

Theo Phúc Âm, chính giai cấp đạo đức giả đã kích động đám đông đổi lòng đối với Chúa Giêsu. Họ đưa đám đông đến sự vô cảm tột độ, đó là hiệp thông hiệp nhất với họ trong quyết tâm loại trừ Chúa Giêsu bằng cái án chết rất mực bất công. Mấy ngày trước, đám đông còn hoan hô đón rước Chúa Giêsu. Thế mà bây giờ họ quay ra phỉ báng, nhạo cười, nhục mạ và xin giết Người. Lúc hấp hối, trên thánh giá, Chúa kêu khát. Họ cho chút giấm chua thay vì nước. Chứng tỏ sự vô cảm của họ đã đưa họ tới sự thù ghét triệt để một cách man rợ kinh hoàng.

Vô cảm là một sức mạnh phá hoại đạo đức vừa tinh vi, vừa thô bạo. Nhất là khi nó đã trở thành nếp sống bình thường. Thời xưa là thế, thời nay cũng vậy.

3. Vô cảm lớn nhất

Kinh Thánh coi sự không ăn năn sám hối trước những cảnh báo là một vô cảm rất lớn. Trong ăn năn sám hối, điều quan trọng cần thực hiện là đổi mới cái tâm.

Thánh vương Đavít cầu nguyện: "Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một quả tim trong trắng" (Tv 51,12).

Nơi tiên tri Giêrêmia, Chúa phán: "Ta sẽ ghi luật Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ viết luật đó trên trái tim chúng" (Gr 31,33).

Nơi tiên tri Êdêkien, Chúa phán: "Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt Thần Khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá, và ban cho chúng một trái tim bằng thịt" (Ed 11,19).

Tất nhiên, trái tim nói đây phải được hiểu là một trái tim thẳm sâu, tức cái tâm, thuộc tâm linh.

Chính trái tim sâu thẳm ấy được Kinh Thánh gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Chính tại đó, Chúa đến gặp ta, ta gặp gỡ Chúa. Chính tại đó, Chúa ở lại với ta. Chính tại đó, Chúa ban cho ta lửa tình yêu và ánh sáng chân lý. Chính tại đó, ta sẽ có những lựa chọn, những hướng đi, những quyết định, nhờ Lời Chúa dẫn đưa.

Khi nghe lời Chúa Giêsu phán: "Tôi hy sinh mạng sống tôi cho đoàn chiên" (Ga 10,15), nếu tôi cảm thấy xúc động trong trái tim, thì xúc động đó là vang vọng từ cái tâm sâu thẳm của tâm linh. Xúc động đó là rất tư riêng.

Khi suy gẫm lời Chúa Giêsu nói: "Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu thương các con" (Ga 15,12), nếu tôi cảm thấy xao xuyến trong lòng, thì xao xuyến đó là rung động từ cái tâm sâu thẳm của tâm linh. Rung động đó thúc giục tôi gần gũi và chia sẻ.

Chính vì trái tim sâu thẳm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống đạo đức, nên sám hối cần phải đổi mới nó. Nếu không, sám hối sẽ chỉ là hình thức. Vô cảm sẽ vẫn còn vô cảm.

Tình hình hiện nay có nhiều dấu hiệu không lành. Có nhiều tiếng báo động. Nhưng trong lãnh vực phần rỗi, trái tim nhạy bén sẽ là cơ quan báo động cần thiết nhất. Nếu chẳng may, nó đã vô cảm, thì phần rỗi sẽ ra sao?

Riêng tôi, cho dù có thể đôi khi còn vô cảm trong một số lãnh vực, nhưng không bao giờ vô cảm trước lời Chúa phán sau đây: "Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay không thương đứa con mình mang nặng đẻ đau. Cho dù họ có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên con bao giờ" (Is 49, 15). Tôi tin vào tình yêu thương xót Chúa. Niềm tin ấy đã cứu tôi.

+ Gm. Gioan B. Bùi Tuần

GP Kotum Họp Mặt Tất Niên

HỌP MẶT TẤT NIÊN - ĐỀ TÀI THUYẾT TRÌNH: “PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN”

GP KONTUM (24/01/2011) - Vào ngày 24/01/2011, gia đình Giáo phận Kontum tổ chức buổi họp mặt tất niên tại Toà Giám Mục (TGM) mừng xuân Tân Mão và chúc tết quý Đức Cha. Đợt họp mặt tất niên này có sự hiện diện đầy đủ các thành phần trong giáo phận, lại thêm buổi thuyết trình đầy ý nghĩa của ông Nguyên Ngọc - Nhà văn, Nhà Nghiên cứu Tây Nguyên, tạo nên cuộc gặp gỡ hết sức đặc biệt.

Mới sáng sớm, không khí tại khuôn viên TGM đã rộn rã hẳn lên. Người lo chương trình, người lo âm thanh, người lo tiếp khách, người lo lễ tân,… tất cả đã nhịp nhàng khẩn trương cho buổi gặp mặt sắp diễn ra. Quý Đức Cha, Cha Tổng Đại diện vừa đi chữa bệnh về, quý cha hạt, cha xứ, quý cha của các nhà dòng hiện diện trong giáo phận, quý thầy chủng sinh ở Huế, quý nữ nu các dòng, các chủng sinh dự bị, các chức việc, giáo phu, đại diện các hội đoàn… (trên 400 tham dự viên) cùng nhau quy tụ về TGM trong niềm vui của ngày hội. Ai ai cũng niềm nở, gặp nhau tay bắt mặt mừng, vì đây là dịp hiếm có - một ngày tất niên quy tụ hết mọi thành phần trong gia đình giáo phận về chúc tết cho nhau.

Đúng 8 giờ 30 sáng, Đức Giám Mục giáo phận bước vào hội trường, chào thăm tất cả quý cha, quý tu sĩ nam nữ và mọi thành phần tham dự. Cộng đoàn hát kinh Chúa Thánh Thần, sau đó Đức Giám Mục thông báo một vài công việc của giáo phận và công tác mục vụ của ngài trong dịp tết, để mọi người hiệp thông cầu nguyện cho công việc truyền giáo tại giáo phận nhà. Đồng thời, ngài cho biết hôm nay có bác Nguyên Ngọc - là nhà văn, một nhà nghiên cứu về Tây Nguyên, đến thuyết trình cho chúng ta đề tài: “PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TÂY NGUYÊN”.

9 giờ, Cha Trưởng Ban Truyền thông hướng dẫn bác Nguyên Ngọc đến hội trường. Đức Giám Mục bước ra bắt tay, đón bác Nguyên Ngọc vào giới thiệu cho cộng đoàn; bắt đầu buổi thuyết trình. Với hơn nữa thể kỷ gắn bó với miền đất này, sống giữa dân làng để học hỏi và làm việc, có những công trình nghiên cứu đặc biệt về văn hoá Tây Nguyên, bác Nguyên Ngọc được coi là nhà văn, nhà báo, tổng biên tập, dịch giả, nhà nghiên cứu văn hoá và là một chuyên gia về Tây Nguyên. Bài thuyết trình hôm nay như lời tâm sự của một tấm lòng gắn bó với văn hoá Tây Nguyên, muốn được trao gởi đến các nhà truyền giáo hiện tại là quý Đức cha, quý cha, quý thầy, quý nữ tu và các đoàn thể trong giáo phận. Ước mong những lời tâm huyết đó đi vào lòng và sinh hoa kết trái nơi những ngôi làng và nơi những tâm hồn mà các nhà truyền giáo được sai đến.

Những nét nổi bật mà bác Nguyên Ngọc trao đổi hôm nay là:

-  Cái nhìn tổng quan về Tây Nguyên

-  Hai vấn đề lớn của xã hội Tây Nguyên là Làng và Quyền sở hữu đất, sở hữu rừng

-  Sự thay đổi của Tây Nguyên từ sau 1975

-  Phát triển bền vững ở Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng đất trải dài suốt 5 tỉnh: Kontum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng; là vùng thuộc miền Tây của các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ và miền Bắc của các tỉnh Đông Nam Bộ. Tây Nguyên được coi là dải đất nam trường sơn, chứa đựng nhiều truyền thống văn hoá của các bộ tộc lâu đời. Nơi đây có không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, bộ đàn đá cổ nhất thế giới, những tập tục văn hoá đặc sắc của các bộ tộc,… tạo nên nét đặc biệt của Tây Nguyên mà không thể lẫn lộn được với các bản sắc khác trên thế giới.

Địa hình Tây Nguyên cao khẳm ở hai đầu nam và bắc, thấp đột ngột ở phía đông, và trải dài độ cao lên phía tây, tạo nên một miền đất hiểm trở, độc lập về địa hình, phong phú về sắc tộc, đa dạng về thảo mộc và động vật.

Nói đến xã hội Tây Nguyên, thì nhất định phải đề cập đến “làng”. Trong các sắc tộc, làng là đơn vị cơ bản, là không gian sống thiết thân nhất của thành phần cư dân bản địa. Con người, cá nhân và niềm tự trọng được gắn bó và hoà tan với làng. Các sở hữu cá nhân về nương rẫy, nhà ở, các tập tục, nghi lễ vốn được hình thành và quy định bởi hội đồng già làng. Làng là cơ chế quản trị của xã hội trong các sắc tộc. Già làng quản lý mọi người bằng hệ thống luật tục. Chính quyền nhà nước không thể quản lý làng tộc bằng quy định của pháp luật mà lại coi nhẹ luật tục của đồng bào sắc tộc. Hệ thống tự trị, tự quản của làng rất mạnh và nhờ đó sự tồn tại vững bền của nó có thể nói là ổn định hàng ngàn năm. Các hoạt động nơi đây không mang tính cá thể đơn lẻ, nhưng mang tính tập thể. Một nghi lễ, một cuộc tập trung hay một đám cưới, đám tang đều mang tính quần thể, có sự tham gia của cả làng.

Đất của làng là rất thiêng liêng, nghiêm cấm mọi hoạt động làm ô uế đất làng. Ranh giới các làng không đo đạc chính xác theo cách của khoa học, nhưng theo quy định của già làng. Cột mốc của làng có thể là cây đa này, gốc thông kia hoặc con suối nọ. Không gian của làng không phải chỉ là mảnh đất định cư, nhưng bao gồm cả rừng thiêng, rừng sinh hoạt, rừng kinh tế (rẫy) và đất thổ cư mà nơi đó, con người sinh sống và thể hiện niềm tin của mình cách thiết thực.  Nếu thiếu một trong các yếu tố trên thì không được gọi là làng.

Bằng cả tấm lòng hăng say yêu mến miền đất Tây Nguyên, bác Nguyên Ngọc ước mong cho mảnh đât Tây Nguyên được phát triển ổn định và vững bền. Để mọi người sắc tộc trên toàn  Tây nguyên được hưởng một cuộc sống yên bình hạnh phúc, đồng thời, mong cho Kinh - Thượng cùng nhau chung sống hòa hợp trên mảnh đất này, chính vì thế bác đã mạnh dạn đề xuất những giải pháp cụ thể. Muốn phát triển bền vững ở tây Nguyên, nhà nước cần phải trả lại rừng cho người thượng tự quản, vì đó là không gian sống còn của họ và là không gian văn hoá, kinh tế, tinh thần để phát triển người thượng. Bên cạnh đó, người thượng cần được xây dựng làng theo luật tục của dân làng. Hơn nữa, họ cần được phục hồi lại hội đồng già làng. Nhờ đó, không gian làng phát huy được các tập tục hay, nghi lễ tốt và sự quản lý chặt chẽ mà bao đời nay họ đã từng có và ổn định. Đây là cơ sở nền tảng để Tây Nguyên được phát triển bền vững sau này.

Bác đã thuyết trình một cách hăng say, rõ ràng về đề tài này trong gần 2 tiếng đồng hồ.

Buổi thuyết trình kết thúc lúc 11 giờ 30. Sau đó, Cha Tổng Đại diện thay mặt gia đình giáo phận lên chúc tết quý Đức Cha và bác Nguyên Ngọc. Cha niên trưởng của gia đình giáo phận Đaminh Mai Ngọc Lợi, thay mặt mọi thành phần chúc tết  Cha Tổng Đại diện, quý cha cùng tất cả mọi người tham dự.

Sau giờ chúc mừng, tất cả mọi người ở lại dùng cơm trưa tại nhà cơm TGM trong tình huynh đệ của một gia đình.

Kontum ngày 24/01/2011

Ban Truyền thông GP Kontum

Suy Nghĩ & Tâm Tình Cuối Năm Canh Dần và Định Hướng Cho Năm Tân Mão

1. Buổi Họp Mặt Tất Niên tại Tòa Tổng Giám Mục Sài-gòn

Sáng hôm qua (thứ bẩy 22/01/2011) tôi được tham dự buổi Chúc Tuổi Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục Sài-gòn. Có mặt trong buổi Chúc Tuổi là đại diện Hội Đồng Mục Vụ các giáo xứ thuộc 15 giáo hạt và đại diện của 21 Hội Đoàn Tông Đồ và 5 Giới của Giáo Phận.

Thay thế bữa tiệc tất niên vẫn thường được tổ chức vào dịp này trong các năm trước thì năm nay anh chị em giáo dân chỉ cùng nhau chia sẻ miếng bánh và chai nước ngọt trong giờ giải lao, để dành tiền mua sắm cho Hội Trường Tòa Tổng Giám Mục Sài-gòn một bộ âm thanh xịn.

Trọng tâm của buổi Chúc Tuổi là anh chị em giáo dân đại diện các giáo hạt, các đoàn thể tông đồ và các giới được lắng nghe Đức Hồng Y chia sẻ tâm tình và kế hoạch xây dựng gia đình giáo phận trong Năm Mới Tân Mão.

Câu đối, do chính Đức Hồng Y sáng tác, được viết theo phong cách thư pháp và được treo hai bên sân khấu Hội Trường coi rất hoành tráng:

XUÂN MỚI HIỆP THÔNG NỞ HOA TRÊN ĐẤT NƯỚC

ÁNH QUANG TIN MỪNG TỎA SÁNG KHẮP MUÔN PHƯƠNG

“Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011” mà Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ Tá gửi các linh mục, tu sĩ và giáo dân trong gia đình giáo phận là món quà tất niên mà ai cũng trân trọng. Hai câu đối và lời chủ chăn đầu xuân 2011 biểu lộ đầy đủ tâm tình và kế hoạch của các vị chủ chăn giáo phận.

2. Tóm tắt nội dung của Lời Chủ Chăn Đầu Xuân 2011

2.1 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 mở đầu bằng lời kêu gọi canh tân đổi mới:

“Chúng ta bế mạc Năm Thánh 2010 tại giáo phận với tâm tình tạ ơn Chúa vì mọi ơn lành Chúa đã thương ban cho mọi người trong Năm Thánh, đồng thời với lời nguyện xin Chúa Thánh Thần thương ban ơn soi sáng và ơn sức mạnh giúp mọi người đáp lời kêu gọi "CANH TÂN, ĐỔI MỚI" của Đại Hội Dân Chúa 2010. Đại Hội Dân Chúa VN 2010 kêu gọi mọi người công giáo Việt Nam hãy canh tân đời sống, đổi mới nếp nghĩ, lối ứng xử và cách làm, nhằm xây mới sự hiệp thông trong Giáo Hội. Môt sự hiệp thông mở đường cho người người bước theo Chúa Giêsu loan Tin Mừng Sự Sống, Tin Mừng Tình Thương, cùng đồng hành với Giáo Hội Chúa Kitô chung sức với đồng bào và đồng loại, vun đắp nếp sống văn hoá sự sống và văn minh tình thương, trong Thành phố và trên đất nước hôm nay, vì sự sống và hạnh phúc của gia đình nhân loại.”

2.2 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 trình bày viết về tác nhân đổi mới:

“Đổi mới lòng người cũng như đổi mới mặt địa cầu là công trình của Chúa Thánh Thần, với sự cộng tác của con người thiện tâm đón nhận ơn Thánh Thần soi dẫn cho mọi người ý thức vượt ra khỏi thói quen, lề lối, khung nếp, công thức bất cập xưa nay, để tìm đường đổi mới, và quyết tâm đổi mới theo như ý Chúa mong muốn và dân Người mong đợi.”

2.3 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 nêu vấn đề tìm đường đổi mới:

“Hội Nghị giáo phận là việc cần làm, nhằm tạo cơ hội cho mọi thành phần trong gia đình giáo phận phát huy tình hiệp thông huynh đệ, thống nhất với nhau, một lòng một ý tìm đường đổi mới và quyết tâm đổi mới. Việc chuẩn bị Công Nghị giáo phận đòi hỏi hình thành Ban Trù Bị Công Nghị giáo phận, với phận vụ nghiên cứu Thông Tư của Bộ Giám mục và Bộ Truyền Giáo chỉ dẫn tổ chức Công Nghị giáo phận, và soạn Nội Quy cho việc tổ chức và tiến hành Hội Nghị.” 

2.4 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 nêu kế hoạch hình thành 3 Ban Mục Vụ còn khuyết là Ban Văn Hóa Công Giáo, Ban Công Lý và Hòa Bình, Ban Giáo Dục Công Giáo.

2.5 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Cầu Nguyện:

“Bí quyết thành công của Công Nghị giáo phận cũng như của mỗi biến cố và mọi sáng kiến trong Giáo Hội, là lời cầu nguyện. Trong Năm Mới Tân Mão này, xin anh chị em chuyên cần cầu nguyện cho mọi thành phần trong gia đình giáo phận canh tân, đổi mới như ý Chúa mong muốn và lòng dân Người mong đợi. Đặc biệt, xin các gia đình, các giáo xứ, các dòng tu, các tổ chức mục vụ và tông đồ, hãy cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần liên kết mọi người một lòng một ý vun đắp nếp sống văn hoá sự sống và văn minh tình thương trong giáo phận cũng như trong Thành phố hôm nay.”

2.6 Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 kết thúc bằng lời chúc mừng Năm Mới

“Nhân dịp Xuân về, nguyện xin Cha trên trời thương ban cho mọi người, mọi gia đình, mọi cộng đoàn trong giáo phận, một năm tràn đầy ơn bình an của Chúa Kitô và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần.”

3. Một vài suy nghĩ và tâm tình khi đọc Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011

3.1 Suy nghĩ và tâm tình đầu tiên: Phải nói là bất cứ ở đâu và bất kỳ khi nào khi đọc hay nghe thấy 4 chữ canh tân đổi mới là lòng tôi lại bồi hồi xúc động. Sáng nay tôi đọc thấy 4 chữ canh tân đổi mới ngay trong lời mở đầu (số 1) của Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục và của Đức Cha Phụ Tá Tổng Giáo Phận Sài-gòn thì làm sao mà tôi không vui mừng sung sướng.

Nhất là trong bối cảnh Năm Thánh vừa bế mạc và trước thềm Năm Mới Tân Mão, lời kêu gọi canh tân đổi mới của Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ Tá càng đáng được lắng nghe và hưởng ứng vì đó cũng chính là lời kêu gọi canh tân đổi mới của Đại Hội Dân Chúa (21-25/11/2010).

Lãnh vực cần canh tân đổi mới là “đời sống, nếp nghĩ, lối ứng xử và cách làm” có nghĩa là toàn bộ cuộc sống của Giáo hội Việt Nam nói chung và Tổng Giáo Phận Sài-gòn nói riêng.

Mục đích của canh tân đổi mới là “xây mới sự hiệp thông trong Giáo hội, sự hiệp thông mở đường cho người người bước theo Chúa Giêsu loan Tin Mừng Sự Sống, Tin Mừng Tình Thương, cùng đồng hành với Giáo Hội Chúa Ki-tô chung sức với đồng bào và đồng loại, vun đắp nếp sống văn hoá sự sống và văn minh tình thương, trong Thành phố và trên đất nước hôm nay, vì sự sống và hạnh phúc của gia đình nhân loại.”

Tác nhân của đổi mới là Chúa Thánh Thần và sự cộng tác của những người thiện tâm đón nhận ơn soi sáng để mọi người ý thức vượt ra khỏi thói quen, lề lối, khung nếp, công thức bất cập xưa nay, để tìm đường đổi mới, và quyết tâm đổi mới theo như ý Chúa mong muốn và dân Người mong đợi.”

3.2 Suy nghĩ và tâm tình thứ hai: Phải nói là Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục và Đức Cha Phụ Tá Tổng Giáo Phận Sài-gòn đã đáp ứng một nguyện vọng sâu xa của gia đình giáo phận khi các ngài đưa ra một con đường đổi mới đầy hứa hẹn là tổ chức Công Nghị Giáo Phận vào tháng 11.2011 này: “Hội Nghị giáo phận là việc cần làm, nhằm tạo cơ hội cho mọi thành phần trong gia đình giáo phận phát huy tình hiệp thông huynh đệ, thống nhất với nhau, một lòng một ý tìm đường đổi mới và quyết tâm đổi mới.” 

Tôi còn nhớ chính Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn đã đưa ra ý tưởng tổ chức Công Nghị Giáo Phận khi ngài mới chân ướt chân ráo về đây, thậm chí trước cả khi ngài sang Vatican nhận Pallium của chức vụ Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Sài-gòn tại Đền Thờ Thánh Phê-rô ngày 29.06.1998.

Không cần tìm hiểu tại sao sau 13 năm ý tưởng tuyệt vời ấy mới được đem ra thực hiện, nguyên việc tổ chức Công Nghị Giáo Phận Sài-gòn vào tháng 11.2011 sau Đại Hội Dân Chúa tháng 11.2010 của Hội Thánh Việt Nam là một tín hiệu của “Vui Mừng và Hy Vọng” Cảm tạ Chúa!

3.3 Suy nghĩ và tâm tình thứ ba:  Phải khách quan mà nhận ra rằng Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục và Đức Cha Phụ Tá đã cho thấy sự nhạy bén về nhu cầu mục vụ của các ngài, khi công bố sẽ hình thành 3 Ban Mục Vụ còn khuyết trong sinh hoạt giáo phận là Ban Văn Hóa Công Giáo, Ban Công Lý và Hòa Bình, Ban Giáo Dục Công Giáo. Quả là một tin vui cho hết mọi người.

Thế nhưng để một Ban Mục Vụ đáp ứng được nhu cầu thực tế và sự mong đợi của dân Chúa và của xã hội thì Tòa Tổng Giám Mục nên quan tâm đến việc bổ nhiệm và tuyển chọn nhân sự (nhất là vị trưởng ban và thư ký) và qui định cách tổ chức và hoạt động của các Ban Mục Vụ này một cách rõ ràng, minh bạch và dân chủ.

Nhìn vào hoạt động của nhiều Ủy Ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam và nhiều Ban Mục Vụ của giáo phận nhà, chúng ta thấy nhiều bất cập và khập khiễng về nhân sự, chương trình và cách làm việc.

Một điều khiến tôi thắc mắc là tại sao Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục và Đức Cha Phụ Tá không đề cập đến việc thành lập Hội Đồng Kinh Tế và Quản Lý Giáo Phận (GL 492-493-494) và Hội Đồng Kinh Tế Giáo Xứ (GL 537). Theo Giáo Luật 1983 thì hai cơ chế này là có tính bắt buộc. Và ngay Ban Mục Vụ Giáo Dân của Giáo Phận Sài-gòn cũng chưa đúng tầm và chưa đủ khả năng thi hành những phận vụ của mình, mặc dù chúng ta đã có Linh Mục Đại Diện Giám Mục Đặc Trách Giáo Dân từ năm 1998.

3.4 Suy nghĩ và tâm tình thứ bốn: Tôi còn thấy một vấn đề vô cùng quan trọng mà Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y Tổng Giám Mục và Đức Cha Phụ Tá Tổng Giáo Phận Sài-gòn không nêu lên. Đó là vấn đề đào tạo và huấn luyện nhân sự, cách riêng các thành phần giáo dân lãnh đạo (Lay Leaders) như Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, Ban Điều Hành Các Hội Đoàn và các Giới, các Giáo Lý viên, các Thừa Tác Viên Lời Chúa, các Ủy Viên các Ban Mục Vụ. Có lẽ Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ Tá thấy không cần nêu vấn đề đào tạo nhân sự trong Thư này. Nhưng thật ra nhân sự (được đào tạo về tâm linh, kiến thức và kỹ năng) là chìa khóa thành công của mọi hoạt động của các Hội Đoàn Tông Đồ, của các Giới cũng như của các Ban Mục Vụ.

Ngoài ra trong Giáo Hội Việt Nam nói chung và trong Giáo Phận Sài-gòn nói riêng hiện nay còn có một nhu cầu khá cấp bách. Đó là “đào tạo những người đào tạo” (TOT = Training of Trainers). Công việc này được các tổ chức phi chính phủ cũng như các công ty nước ngoài làm việc tại Việt Nam rất quan tâm thực hiện.

Ước mong Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ tá quan tâm hơn nữa đến nhu cầu này.

4. Thay Lời Kết:  Đọc Lời Chủ Chăn đầu Xuân Tân Mão 2011 của Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ Tá, tôi có những tâm tình sau đây, xin chia sẻ:

- Trước hết là tâm tình ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã ban cho Giáo Hội Việt Nam và giáo phận Sài-gòn Năm Thánh và Đại Hội Dân Chúa 2010!

Tôi cũng chúc tụng, ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã soi sáng cho các vị chủ chăn tìm ra con đường canh tân đổi mới đầy hứa hẹn cho giáo phận!

- Kế đến là tâm tình cậy trông phó thác vào quyền năng của Chúa Thánh Thần là Đấng canh tân đổi mới mặt địa cầu cũng như các tâm hồn. Người sẽ ở bên chúng ta trong những tháng ngày chúng ta chuẩn bị và tổ chức Công Nghị Giáo Phận 2011.

- Sau cùng là tâm tình lạc quan tin tưởng vào tương lai của Giáo Hội Việt Nam nói chung và của Giáo Phận Sài-gòn nói riêng. Với các vị chủ chăn có đường lối mục vụ sâu sát và hợp thời, với thiện chí và nỗ lực canh tân của mọi thành phần dân Chúa, nhất là của hàng giáo sĩ, chúng ta có quyền “vui mừng và hy vọng”

- Để kết thúc, tôi xin mượn lời chúc mừng Năm Mới của Đức Hồng Y và Đức Cha Phụ Tá mà gửi đến quý bề trên, quý đại huynh/muội và tiểu đệ/muội:

“Nhân dịp Xuân về, nguyện xin Cha trên trời thương ban cho mọi người, mọi gia đình, mọi cộng đoàn… một năm tràn đầy ơn bình an của Chúa Kitô và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần.”

Ngày 23/01/2011

(tức 20 Tháng Chạp Năm Canh Dần)

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

 

ĐHY Tauran: Đối diện với bạo lực, “không có giải pháp nào hơn là đối thoại và giáo dục”

"Các tín hữu phải dùng vốn linh đạo của họ để phục vụ mọi người”.  

Việc Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI loan báo cuộc gặp gỡ liên tôn mới ở Assisi vào tháng 10 tới, tức 25 năm sau cuộc gặp gỡ do Đức Gioan Phaolô II tổ chức, đã diễn ra vào lúc có những bạo lực tôn giáo đang gia tăng. Trong bầu khí này, một sáng kiến như thế không luôn được hiểu đúng, ngay cả giữa lòng Giáo Hội. Đối với Đức Hồng y Jean-Louis Tauran, Chủ tịch Hội đồng Đối thoại Liên tôn của Toà Thánh, việc đối thoại và giáo dục là câu trả lời duy nhất cho bạo lực.

Dưới đây là bài phỏng vấn của nhật báo La Croix với ĐHY Jean-Louis Tauran:

La Croix: Đối diện với bạo lực, làm sao duy trì cuộc đối thoại giữa các tôn giáo?

ĐHY Tauran: Đôi khi, người ta nói với tôi: “Đấy, cuộc đối thoại của chúng ta dẫn đến đâu!” Câu trả lời đơn giản của tôi là: các biến cố gần đây cho thấy cuộc đối thoại vẫn còn quá yếu dường nào và cần phải được đào sâu. Điều đáng kinh sợ, đó là khi bạo lực trở nên một phương thức giao tiếp giữa các cộng đoàn. Không có giải pháp nào khác hơn là đối thoại và giáo dục.

Về phần tôi, tôi xin dựa vào ngôn sức Mikha (6,8): “Những gì Đấng Hằng Hữu đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, yêu quý lòng khoan dung và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn”. Đó là giải pháp duy nhất. Chúng ta có những tiếp xúc, nhất là ở Châu Âu, với những người đối thoại có phẩm chất, đề cập vấn đề đối thoại cách bình tâm và khách quan.

La Croix: Đức Cha nói gì với các Kitô hữu bị cám dỗ bởi luật báo thù?

ĐHY Tauran: Trong một hoàn cảnh như thế, cần phải tránh sự nóng giận cũng như sự dửng dưng. Sự nóng giận là kẻ cố vấn tồi. Còn về sự dửng dưng, Đức Gioan Phaolô II đã có thói quen nói, trong suốt cuộc chiến Balkans: “Không có quyền dửng dưng”. Chân lý nằm giữa hai (thái độ) đó.

La Croix: Đâu sẽ là đề tài của cuộc gặp gỡ cầu nguyện liên tôn cho hoà bình, được Đức Giáo Hoàng triệu tập ở Assisi vào tháng 10 tới?

ĐHY Tauran: Dĩ nhiên, đó sẽ không phải là bản sao của cuộc gặp gỡ tại Assisi mà Đức Gioan Phaolô II đã triệu tập cách đây 25 năm.

Câu hỏi mà chúng ta sẽ phải đặt ra là: “Tại sao các tôn giáo làm cho sợ hãi?” Tôi nghĩ không phải các tôn giáo làm cho sợ hãi, nhưng là các tín đồ của chúng, bởi vì họ không cư xử theo những giới lệnh của các tôn giáo của họ.

La Croix: Cách đây 25 năm, ĐHY Ratzinger đã không nhiệt thành đối với cuộc gặp gỡ tại Assisi, cuộc gặp gỡ mà vả lại ngài đã không tham dự.

ĐHY Tauran: Vào thời đó, ngài đã đề phòng chống lại một số lệch hướng có thể. Nhưng sứ điệp của Đức Bênêđictô XVI cho ngày 1 tháng Giêng không hề để lại bất kỳ nghi ngại nào về các ý định của ngài: “Bạo lực không được chinh phục bằng bạo lực. Ước gì tiếng kêu đau đớn của chúng ta luôn luôn được đi kèm bởi đức tin, bởi đức ái, bởi đức cậy, và bởi chứng tá về tình yêu của Thiên Chúa. Tôn giáo là một vũ khí hoà bình đích thực”. 

Các tín hữu phải dùng vốn linh đạo của họ để phục vụ mọi người, chứ không phải biến nó thành vũ khí. Chúng ta phải mang lại cho hoà bình những vũ khí khác hơn là những thứ vũ khí dùng giết người.

Frédéric MOUNIER ghi chép, tại Rôma

Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ

***

«Les croyants doivent mettre leur capital de spiritualité au service de tous»

L’annonce par Benoît XVI, le 1er janvier, d’une nouvelle rencontre interreligieuse à Assise en octobre prochain, 25 ans après celle organisée par Jean-Paul II, est intervenue alors que s’accroissent les violences interreligieuses. Dans ce climat, une telle initiative n’est pas toujours bien comprise, même au sein de l’Église. Pour le cardinal Jean-Louis Tauran, président du Conseil pontifical pour le dialogue interreligieux, le dialogue et l’éducation constituent cependant la seule réponse à la violence.

 

La Croix: Face à la violence, comment maintenir le dialogue entre les religions?

Cardinal Jean-Louis Tauran: Parfois, on me dit: «Voilà où mène notre dialogue!» Ma réponse est simple: les récents événements montrent combien le dialogue est encore trop faible et doit être approfondi. Ce qui est terrible, c’est quand la violence devient un mode de communication entre les communautés. Il n’y a pas d’autre solution que le dialogue et l’éducation.

Pour ma part, je m’en tiens au prophète Michée (6, 8): «Ce que l’Éternel demande de toi, c’est que tu pratiques la justice, que tu aimes la miséricorde, et que tu marches humblement avec ton Dieu.» C’est l’unique solution. Nous avons des contacts, notamment en Europe, avec des interlocuteurs de qualité, qui abordent le dialogue de manière sereine et objective.

Que dites-vous aux chrétiens tentés par la loi du talion?

Dans une telle situation, il faut éviter aussi bien la colère que l’indifférence. La première est mauvaise conseillère. À propos de la deuxième, Jean-Paul II avait coutume de dire, durant la guerre des Balkans: «Il n’y a pas de droit à l’indifférence.» Entre les deux se situe la vérité.

Quel sera le thème de la rencontre de prière interreligieuse pour la paix, convoquée par le pape à Assise, en octobre prochain?

Ce ne sera évidemment pas un duplicata de la rencontre d’Assise convoquée par Jean-Paul II il y a vingt-cinq ans.

La question que nous devrons nous poser sera: «Pourquoi les religions font-elles peur?» Je pense ce ne sont pas les religions qui font peur, mais leurs adeptes, parce qu’ils ne se comportent pas selon les préceptes de leurs religions.

Il y a vingt-cinq ans, le cardinal Ratzinger n’était pas enthousiaste face à la rencontre d’Assise, à laquelle il n’avait d’ailleurs pas participé.

À l’époque, il avait mis en garde contre certaines dérives possibles. Mais le message de Benoît XVI pour le 1er janvier ne laisse aucun doute sur ses intentions: «La violence ne se vainc pas par la violence. Que notre cri de douleur soit toujours accompagné par la foi, par la charité, par l’espérance, et par le témoignage de l’amour de Dieu. La religion est une arme authentique de la paix.»

Les croyants doivent mettre leur capital de spiritualité au service de tous, et non pas en faire des armes. Il nous faut donner à la paix d’autres armes que celles destinées à tuer.

 

Page 5 of 8