Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Aug 28th 2014
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME

Đổi Mới Phương Thức Giảng Thuyết

E-mail Print

Đề tài sẽ được khai triển dựa theo bài Giảng Thuyết của cha Olivier de la Brosse dòng Đa Minh, vừa là Cố Vấn Văn Hóa của Tòa Đại Sứ Pháp cạnh Tòa Thánh vừa là Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Saint Louis của Pháp tại Roma, đăng trong tập 5 cũng là tập cuối của bộ Đường Vào Thần Học do Bernard Lauret và Francois Refoulé biên soạn. Theo cha, giảng thuyết là mầu nhiệm vì nội dung của nó là sứ điệp của mầu nhiệm Phục sinh và hình thức của nó là mầu nhiệm Lời Chúa được loan báo từ môi miệng của con người nhưng đích thực là hành vi của Thiên Chúa, Đấng duy nhất có quyền gợi ra và đòi hỏi con người phải hoán cải. Giảng thuyết đối với cha đơn giản là làm cho con người hiện diện trước mầu nhiệm được loan báo. Nhà giảng thuyết đặt người nghe trước Đức Kitô chết và sống lại để mời gọi họ đáp trả lại bằng hoán cải. Để nhấn mạnh đến hoán cải, cha Olivier nhắc lại lời của Léon Dufour, “mọi lời rao giảng không chuyển thành lời mời gọi hoán cải đều có nguy cơ là một bài diễn thuyết, không còn phải là Tin Mừng nữa.” Trong viễn tượng này, giảng thuyết được xem là hành vi của Thiên Chúa thiết lập vương quyền của Đức Kitô trên thế giới.

Tôi thiết nghĩ hoán cải chính là điểm phân biệt giữa thần học và giảng thuyết hay giáo lý. Thần học là đức tin tìm kiếm chân lý và đáp ứng nhu cầu hiểu biết của lý trí. Dù là “thần học thực hành” (tựa đề tập 5 & tập cuối của bộ Đường Vào Thần Học đã nói ở trên) thì thực hành ở đây cũng chỉ là đối tượng của suy tư mà thôi. Còn giảng thuyết và giáo lý thì trực tiếp nhắm đến hoán cải, nghĩa là làm cho mầu nhiệm loan báo thấm nhập vào tâm hồn và đời sống của cá nhân và cộng đoàn, GH và XH.

Định nghĩa hiện nay về giảng thuyết không đơn giản chỉ là giải thích bản văn sách thánh và áp dụng vào đời sống, nhưng không thể thiếu ba từ này: kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của Chúa Giêsu và của người giảng cũng như người nghe (experience of God), thách đố (challenge), và hoán cải (conversion). Muốn khơi lên lời mời gọi hoán cải, nhà giảng thuyết phải nêu được thách đố khởi đi từ sự đối chiếu kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của cử tọa với kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa của Đức Giêsu, từ khoảng cách hay chênh lệch – thậm chí đối nghịch – giữa hai kinh nghiệm ấy. Một bài giảng mà không nêu được một dấu chấm hỏi để giúp người nghe tiếp tục suy tư và tìm kiếm có nguy cơ trở thành thứ “suy tư hộ” hay “suy tư thay,” một thứ bao cấp nào đó ngăn trở suy tư và tìm kiếm chân lý của cộng đoàn. Có một câu hỏi nhức nhối nhưng rất thật đối với chúng ta là những nhà giảng thuyết rằng liệu thái độ thụ động và dửng dưng trong việc đọc, học hỏi và cầu nguyện với lời Chúa của người công giáo (so với anh em Tin lành) hôm nay là do chính những bài giảng “hoàn hảo” với những giải pháp làm sẵn nặng tính “bao cấp” của chúng ta không? Câu trả lời xin dành lại cho mỗi người.

Theo Thomas Groome, Nước Thiên Chúa phải là viễn tượng mà các nhà giảng thuyết và giảng viên giáo lý phải hướng tới. Trong ý hướng này, việc giảng dạy không thể dừng lại ở truyền đạt kiến thức hay thông tin (inform) hoặc xây dựng mối tương quan giữa người nghe với Chúa và với nhau (form) nhưng còn phải đi xa hơn nữa, tới sự biến đổi xã hội hay thế giới này trở thành “trời mới đất mới” như lòng Chúa mong ước.

Theo cha Olivier, bài giảng thường có hai mục đích chính: một là giáo huấn, hai là cảm hóa. Nhà giảng thuyết trình bày giáo huấn cách sáng sủa và sinh động nhằm khơi lên nơi thính giả sự đồng tình và quyết định thực hiện giáo huấn ấy. Cha cũng nghĩ rằng Dân Chúa không hoàn toàn thụ động khi nghe giảng, vì họ có quyền tiếp nhận hay từ chối sứ điệp được loan báo. Họ là những người đang tìm Chúa và đối diện với những vấn đề của cuộc sống. Nhà giảng thuyết phải quan tâm và đem Tin Mừng soi sáng những vấn đề của cộng đoàn. Phải có sự đồng thuận giữa giảng viên và cử tọa thì bài giảng mới được nghe và tiếp nhận, tức được coi là xác đáng và chân thật. Tuy nhiên, sự chân thật của bài giảng trước hết và trên hết hệ tại giảng viên với tư cách là sứ giả là Chúa Kitô được sai đi để Phúc âm hóa phải nói với tất cả sự hăng say những gì cần phải nói, cho dù có bị chống đối và hãm hại. Rồi để lời của mình được nghe và tiếp nhận, giảng viên phải sống những gì mình rao giảng tức đời sống của ông phải phù hợp với đời sống của Đấng đã sai ông đi. Chính sự phù hợp này đảm bảo cho tính chân thật của sứ điệp mà giảng viên loan báo.

Vì là phương thế chính của công cuộc Phúc âm hóa nên theo cha Olivier giảng thuyết thường bị đặt thành vấn đề và phê phán. Nhưng những vấn nạn và phê bình lại thúc đẩy canh tân phương thức rao giảng. Dưới đây là những vấn nạn và phê bình chính:

(1) phong trào canh tân phụng vụ và lời Chúa giúp giáo dân ngày nay làm quen và học hỏi kinh thánh nhiều hơn, từ đó có nhiều người cho rằng tốt hơn nên thay thế bài giảng truyền thống bằng một giờ kinh, một cử hành hay buổi học kinh thánh;

(2) giảng thuyết xem ra không hiệu nghiệm đối với những người không tin, lạnh nhạt hay dửng dưng với đạo. Hơn nữa, các nước thuộc thế giới thứ 3 ngày một phát triển và ý thức hơn về các vấn đề văn hóa và công bằng xã hội. Họ chất vấn Giáo Hội về những hậu quả xã hội gây ra bởi giáo huấn và thực hành của Giáo Hội;

(3) chịu ảnh hưởng của làn sóng thế tục hóa, nhiều nhà giảng thuyết thích bàn chuyện thế sự hơn là nói về Thiên Chúa. Tin Mừng chỉ được mặc nhiên thay vì minh nhiên công bố; (Gạch dưới để nhấn mạnh là của tôi chứ không phải của tác giả.)

Có lần tôi đi dự một thánh lễ hôn phối, sau những bài đọc phụng vụ, vị giảng lễ không đề cập gì đến nội dung của các bản văn này, nhưng lái sanh một huyền thoại Ấn Độ; trong đó có một chi tiết thật thảm hại – theo lời kể của vị này – sau khi Thượng đế dựng nên các loài khác thì không biết lấy gì để dựng nên người phụ nữ, ngài liền vơ vét những gì còn sót lại để dựng nên họ. Từ đó, vị giảng lễ đưa ra những lời khuyên dựa trên những khám phá của khoa tâm lý. Thiết nghĩ chúng ta dựa vào đâu để cho mình quyền khuyên bảo người khác khi mà tuổi đời, kiến thức và kinh nghiệm của chúng ta quá ư là ít ỏi với những người đang nghe chúng ta, nếu không phải dựa vào sức mạnh của lời Chúa và thừa tác vụ được lãnh nhận từ Giáo Hội. Chắc anh em cũng đồng ý với tôi rằng có những bài giảng chiều lòng người nghe đến nỗi chỉ thích tấu hài để có được những tiếng cười và vỗ tay. Làm sao có thể hiểu nổi, ngay trong cử hành phụng vụ thánh, người có trách nhiệm rao giảng lời Chúa lại có thể khề khà với những chuyện tiếu lâm, thậm chí tiếu lâm tục? Xin thứ lỗi nếu như tôi đã quá lời, nhưng đó là “sự thật”phủ phàng!

(4) chủ trương tôn trọng các văn hóa và tôn giáo khác của CĐ Vaticanô II vô hình trung tạo ra một sự e dè nào đó trong việc xác quyết đức tin Kitô giáo, ảnh hưởng không tốt đến việc trình bày và làm chứng cho Lời Chúa. Tuy nhiên, tôn trọng niềm tin và tư tưởng khác đâu có nghĩa phải im lặng; trái lại, phải nói với lòng tôn trọng.

Những vấn nạn và phê bình trên thúc đẩy nỗ lực canh tân và đòi hỏi một số thích nghi trong phương thức giảng dạy:

1. thích nghi liên quan đến phương tiện:

Cố gắng vận dụng các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại như truyền thanh, truyền hình, báo chí, phim ảnh, phim chiếu, băng ghi âm và ghi hình để rao giảng cách công khai. Loại thích nghi này không chỉ nhắm đạt tới nhiều thính giả nhất và cung cấp nhiều thông tin hơn, mà còn nhắm công khai đấu tranh cho việc tạo xã hội thấm nhuần tinh thần kitô giáo, bằng cách trực diện với những lối giải thích khác về thế giới, thông tin và bình luận các vấn đề xã hội dưới ánh sáng đức tin. Hình thức “thông tin” xem ra đáp ứng nhu cầu tự do của người thời nay khéo hơn hình thức “thuyết giảng”; họ thích trình bày hơn thuyết giáo và họ sợ lương tâm bị áp đặt;

Trong một cuốn sách nói về đổi mới kinh tế, Gs Nguyễn Xuân Oánh đề cập đến một hình thức mới của cuộc sống đang hình thành trên và qua mạng internet mà ông gọi là e-life. Ông bảo nếu VN không mau chóng hội nhập vào đời sống này của thế giới nơi mà chỉ cần một cái click thôi hàng tỉ đồng di chuyển tức thì từ nước này sang nước nọ để rồi loay hoay mãi với nhưng lối làm ăn lỗi thời thì chúng ta không tránh khỏi bị gạt ra bên lề nhịp sống thời đại. Phải chăng đó là lý do cha Timothy bảo phải có những anh em Đa Minh phải hiện diện và rao giảng trên mạng. Hiện nay các trang web nhà đạo chỉ mới dừng lại ở việc sử dụng internet như một phương tiện để chuyển tải thông tin nhưng chưa tạo được những cuộc trao đổi qua mạng; đây mới thực sự là đặc trưng của “văn hóa digital” (Digital culture) phát sinh từ cuộc cách mạng tin học.

2. thích nghi liên quan đến ngôn ngữ:

Truyền thông hiện đại có khuynh hướng tạo cơ hội cho mọi người đối thoại, trao đổi, bàn bạc, và tìm kiếm giải pháp cho những vấn đề thực tiễn của cuộc sống hơn là thông tin một chiều hay độc thoại. Do đó, việc rao giảng lời Chúa cũng có thể được thực hiện qua những buổi bàn luận, những cuộc hội thảo, những khóa học được tổ chức theo dạng trao đổi bình đẳng giữa các thành phần tham dự nhằm tìm kiếm chân lý. Ngôn ngữ của giảng viên hôm nay phải ngắn gọn và chính xác, dùng hình ảnh và biểu tượng thời nay, nhịp độ nhanh và giọng điệu phải đơn sơ và chân thành;

3. thích nghi liên quan đến nội dung sứ điệp:

Những tiến bộ của khoa chú giải Kinh Thánh đòi hỏi giảng viên phải hiểu ý nghĩa chính yếu của Tin Mừng trước khi rao giảng. Có quá nhiều những trái nghĩa hoặc nghịch nghĩa về một số các bản văn Kinh Thánh vẫn tiếp tục được rao giảng khiến những sai lầm còn hoài trong tâm trí người nghe. Chủ trương nghiệp dư về Kinh Thánh là điều không thể chấp nhận: nhà giảng thuyết không có quyền dạy một điều vốn đã sai lầm và hiểu sai về Thiên Chúa;

4. thích nghi liên quan đến thính giả:

Nhà giảng thuyết phải biết đủ về tâm lý-xã hội để hiểu những tác động trên não trạng và đời sống con người, trên môi trường sống của họ. Môi trường này tác động trên tâm lý (yêu & sợ), trên cách họ nhận thức (thành kiến & giả định), suy nghĩ và diễn đạt tư tưởng, hiểu biết và tiếp nhận tư tưởng của người khác cũng như tiếp nhận lời Chúa. Giảng viên không thể nói cho mọi người cùng một cách như nhau. Mỗi bài giảng phải là một lễ Hiện Xuống mới, trong đó mỗi người phải nói được mình “đã đón nhận những điều lạ lùng của Thiên Chúa, trong chính ngôn ngữ riêng mình” (CVTĐ 2, 11).[1]

Vì quá chú trọng đến sứ điệp Lời Chúa phải thông truyền nên chúng ta thường trình bày nó một cách xuông xẻ, một chiều mà quên rằng lời Chúa vẫn đang “nhập thể” nơi người nghe qua những cuộc chiến đấu nội tâm cam go của họ. Người nghe mong người giảng thuyết hiểu được những khó khăn của họ để soi sáng và nâng đỡ trong cuộc chiến này thay vì nặng lời kết án hay đưa ra những lời khuyên bảo một cách quá ư dễ dàng.

Lạy Chúa Thánh Thần,

xin Ngài hãy đến như cơn gió mát

thổi vào đời con,

thổi vào Giáo Hội,

thổi vào thế giới,

để đem lại cho chúng con

sự tươi mới nhẹ nhàng, sự tư do thanh thoát.

Xin Ngài hãy đến như dòng nước trong

chảy vào đời con,

chảy vào Giáo Hội,

chảy vào thế giới,

để cuốn trôi đi mọi nhơ nhớp, khô cằn, cứng cỏi,

và làm bật dậy những mầm xanh sự sống nơi chúng con.

Xin Ngài hãy đến như ngọn lửa hồng

chiếu sáng đời con,

chiếu sáng Giáo Hội,

chiếu sáng thế giới,

để chúng con không còn đồng lõa với tối tăm,

nhưng mang trong tim một ước mơ nóng bỏng,

đó là làm cho vũ trụ rực sáng Tình yêu.

(Trích Rabbouni)

Gợi ý suy tư: Trong những đề nghị thích nghi của Olivier, đề nghị nào đối với tôi là khả thi nhất?

 -------------------------------------
[1] X. Olivier de la Brosse, Giảng Thuyết, trong “Đường Vào Thần Học” (tập 5) của Bernard Lauret và Francois Refoulé, bản Việt ngữ của Nguyễn Đức Việt Châu (Tp HCM: NXB Tp HCM, 1998), 153-209.

 


BÀI MỚI HƠN - NEWER ARTICLES:
BÀI CŨ HƠN - OLDER ARTICLES: