Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Thursday
Oct 23rd 2014
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Phụng Vụ Chia Sẻ Lời Chúa LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ TRONG DÒNG LỊCH SỬ DO THÁI

LỊCH SỬ ƠN CỨU ĐỘ TRONG DÒNG LỊCH SỬ DO THÁI

E-mail Print

LichSuOnCuuDoSách Phúc Âm theo Thánh Matthêu khởi đầu bằng bản tường thuật Gia Phả của Chúa Giêsu (Matthêu 1: 1-17) và bắt đầu từ tổ phụ Abraham. Có thể nói, lịch sử Ơn Cứu Độ bắt đầu từ Abraham trong dòng lịch sử Do Thái và Do Thái Giáo.

Theo Sách Khởi Nguyên, cuốn sách đầu của Thánh Kinh, thì ông Abraham (Thế kỷ XIX trước Chúa giáng sinh) có cha tên là Terah, người gốc thành Ur , sắc tộc Chaldeans, vùng đất Mesopotamia, gần vịnh Ba Tư. Gia đình đã di chuyển (du mục) lên miền Haram. Từ Haram, Thiên Chúa đã dẫn đưa Abraham xuống phía  tây nam đến miền Canaan và cuối cùng định cư tại giải đất Palestine, sát bờ biển Địa Trung Hải. Abraham lúc đầu có tên là Abram, nhưng đã được Thiên Chúa đổi tên là Abraham (Khởi Nguyên 17: 5) khi Thiên Chúa ký Giao Ước với ông.

Ông Abraham và bà vợ là Sarah đã sinh ra Isaac. Từ Isaac và bà vợ là Rebecca sinh ra Giacop. Ông Giacop sau được đổi tên là Israel (Khởi Nguyên 32: 29). Giacop sinh được 12 người con là tổ phụ của 12 chi họ Israel. Do đó, khi tái lập quốc gia (vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, sau gần 2 ngàn năm mất nước), người Do Thái đã đặt tên nước mình là Israel. Mười hai người con trai của Giacop là: Reuben (đầu lòng) Simeon, Levi, Giuda, Issachar, Zebulun (Mẹ là Leah) Giuse, Benjamin (Mẹ là Rachel), Dan, Neptali (Mẹ là Bilhah), Gad, Asher (Mẹ là Zilpah) (Khởi Nguyên 35: 23-26).

Vào khoảng năm 1630 (trước Chúa giáng sinh), vì nạn đói xảy ra tại vùng đất Canaan, nên cả gia đình Giacop đã sang sinh sống tại Ai Cập khỏang 400 năm, và phát triển thành một dân đông đảo. Mãi đến khoảng năm 1230 (trước Chúa giáng sinh), vì bị người Ai Cập áp bức bắt làm nô lệ, nên Moisê đã được Thiên Chúa chọn làm người lãnh đạo để đưa cả dân tộc thóat khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, vượt qua sa mạc Sinai trong 40 năm để trở về lại quê hương là “đất Chúa đã hứa” ban cho tổ phụ Abraham (Xin xem Sách Xuất Hành). Chính đại tướng Joshua đã thay thế Moise lãnh đạo dân chiếm lại phần đất cũ của quê hương và chia cho 12 chi tộc.

Theo bản Gia phả, thì Chúa Giêsu thuộc chi tộc Giuda và từ đó tiếp theo xuống là hai vị vua rất nổi tiếng của người Do Thái là vua David (khoảng 1015-975) và vua Salomon (khoảng 970-931). Từ đó cứ tiếp nối theo thời gian cùng với nhiều biến cố lịch sử, đặc biệt là cuộc lưu đày tại Babylon (khoảng 587-533 trước Chúa giáng sinh) rồi lại trở về quê hương Palestine, và tiếp nối cho tới thời “viên mãn” Chúa Giêsu giáng sinh tại Bêlem. Từ đó, lịch sử Ơn Cúu Độ được chia ra làm hai thời kỳ: Cụu Ước (trước Chúa giáng sinh), và Tân Ước (sau Chúa giáng sinh). Lịch sử nhân loại cũng được đánh dấu hai thời kỳ: Trước Chúa giáng sinh (trước Công Nguyên; B.C. hoặc B.C.E.) và sau Chúa giáng sinh (sau Công Nguyên; A.D.).

Theo đúng lịch sử, thì Chúa Giêsu sinh vào năm 7 hoặc 6 trước Công Nguyên (vì người làm lịch lúc đầu đã tính lầm thời gian (Xin xem bài “Nhân Mùa Giáng Sinh…”). Chúa Giêsu đã lớn lên tại Nagiaret (thuộc vùng Galilêa, phía Bắc Do Thái) và đã đi rao giảng Phúc Âm tình thương trong 3 năm, rồi chịu khổ hình và chịu chết trên Thánh Giá vào tháng 4 năm 30. Ngài đã sống lại và lên trời để mở đường cứu độ cho nhân loại. Ai tin theo và sống theo Phúc Âm tình thương của Ngài thì được hưởng nhờ ơn cứu độ  (Matcô 16: 16).

Trong thời gian rao giảng, Chúa Giêsu đã gọi và huấn luyện 12 Tông Đồ (Matthêu 10:1-4) để sai đi rao giảng về Nước Chúa và thành lập Giáo Hội Chúa. Mười hai Tông Đồ là: Phêrô (Simon) và người anh là Anrê, Giacobê, và em là Gioan (con ông Giêbêđê), Philiphê, Batôlômêô, Tôma, Matthêu (người thu thuế), Giacobê (con ông Anphê, anh em họ của Chúa Giêsu), Giuđa Tađêô, Simon, và Giuđa Iscariô (sau này Matthias đã được chọn thay thế Giuđa (Công Vụ Tông Đồ 1: 15-26). Phaolô đã được Chúa gọi (vào năm 36) làm Tông Đồ trong một biến cố đặc biệt khi ông đang đi trên đường đến Đamas để lùng bắt các môn đệ  của Chúa (Công Vụ Tông Đồ 9: 1-21).

Thánh Phêrô đã được đặt làm thủ lãnh các Tông Đồ (Matthêu 16: 13-19) và là vị Giáo Hoàng đấu tiên của Giáo Hội Chúa (Gioan 21: 15-17). Nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng và nâng đỡ, Phúc Âm của Chúa đã được rao giảng khắp nơi,  trong và ngoài nước Do Thái (Luca 24: 47), cho đến mọi quốc gia ngày nay trên thế giới. Ai tin và sống theo Phúc Âm tình thương của Chúa thì được ơn cứu độ Ngài ban.

Mỗi Mùa Giáng Sinh trở về, lại là dịp cho chúng ta ôn lại lịch sử ơn cứu độ qua từ lời hứa của Thiên Chúa (Khởi Nguyên 2: 15; Roma 5: 12-19) sẽ cho Đấng Cứu Độ đến để chuộc tội của con cháu Adong và Evà. Lời hứa đó đã được lưu truyền qua bao thế hệ của dòng lịch sử của dân tộc Do Thái là dân riêng Chúa đã chọn từ giao ước với Abraham, Moisê. Cho đến thời Chúa Giêsu thì chấm dứt  thời “Cựu Ước” để mở đầu “một Tân Ước vĩnh củu” và ơn cứu độ không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Do Thái, nhưng đã được mở rộng cho mọi dân tộc (Luca 24:47). Mọi người đều được mời gọi gia nhập Giáo Hội Chúa để được giáo huấn và sống theo tinh thần Phúc Âm Chúa đã giảng dạy để được hưởng ơn cứu độ.

Từ hơn hai ngàn năm nay, Chúa Giêsu vẫn chăn dắt đoàn chiên của Chúa qua Giáo Hội. Giáo Hội chính là một “Israel mới” của Tân Ước. Chúa Giêsu vẫn ở cùng Giáo Hội và chăn dắt đoàn chiên của Chúa như lời Chúa đã hứa trước khi về cùng Chúa Cha: “Thày vẫn ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Matthêu 28: 20). Qua dòng thời gian, Chúa vẫn gọi và chọn một số người làm tông đồ đặc biệt và sai đi khắp nơi để rao giảng Phúc Âm tình thương của Chúa. Nhưng chính mỗi tín hữu chúng ta cũng là những “Tông Đồ Giáo Dân”. Bằng cách này hay bằng cách khác, mỗi tín hữu đều có bổn phận làm việc tông đồ để đưa Chúa đến cho mọi người chúng ta có dịp tiếp xúc hàng ngày, trong gia đình, ở sở làm, xưởng thợ, trường học, trong mọi môi trường sống hàng ngày của chúng ta. Chính đời sống đức tin gương mẫu của chúng ta  để “làm chứng nhân cho Chúa” (Luca 24: 48) là cách thể hiện công việc tông đồ hữu hiệu nhất.

Xin chúc mừng Giáng Sinh 2009 và Năm Mới Dương Lịch 2010 đến từng qúy vị và qúy quyến.Xin cùng hiệp lời cầu nguyện chung cho nhau, cho hòa bình thế giới, cách riêng  cho quê hương và Giáo Hội Việt Nam trong Năm Thánh 2010 (đã bắt đầu từ Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24/11/2009). Cũng xin tiếp tục cầu nguyện cho các Chủ chăn và các Linh mục, nhất là các vị đang bị bách hại, tù đầy, đặc biệt trong  “Năm Linh Mục” này.