Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam Tại Hoa Kỳ

Monday
Oct 20th 2014
Text size
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
HOME Phụng Vụ Chia Sẻ Lời Chúa Ý Nghĩa Mùa Vọng

Ý Nghĩa Mùa Vọng

E-mail Print

Mùa vọng (Sách lễ Rôma 1992, trang 92, chương V, 39-41)

39. Mùa Vọng có hai đặc tính: Vừa là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng Sinh, trong lễ này, kính nhớ việc Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người; vừa là mùa mà qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Vì hai lý do này, Mùa Vọng được coi như mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi.

40. Mùa Vọng bắt đầu từ giờ kinh chiều I ngày Chúa Nhật nhằm này 30 tháng 11, hoặc nhằm vào ngày gần nhất và kết thúc trước giờ kinh chiều I lễ Chúa Giáng Sinh.

41. Các Chúa Nhật mùa này gọi là Chúa Nhật I, II, III, IV mùa Vọng.

Ý nghĩa mùa Vọng

Ai cũng biết Phúc Âm được viết vào khoảng từ năm 70 đến 100 sau khi Chúa Giêsu lên trời, và cho đến nay cũng không chứng cớ nào minh xác Chúa Giêsu đã sinh sống nơi trái đất này được bao nhiêu năm. Theo Kinh Cầu Tử Nạn, “Chúa Giêsu ba mươi năm ở cùng Đức Mẹ; Chúa Giêsu ba năm giảng dạy nước Giurêu,” vị chi ba mươi ba năm; nhưng nơi Phúc Âm Gioan khi Ngài nói, “Ông Aùp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ” (Gn. 8:56). Người Do Thái nói, “Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã thấy ông Aùp-ra-ham” (Gn. 8:57). Dựa theo câu này, các nhà khảo cứu Kinh Thánh nêu lên có lẽ Chúa GiêSu thời ấy cỡ chừng bốn mươi mấy tuổi. Đọc tiếp Phúc Âm, Chúa Giêsu bảo người Do Thái, “Thật, tôi bảo thật các ông: trước khi có ông Aùp-ra-ham, thì tôi, tôi đã hằng hữu” (Gn. 8:58).

Như vậy, Mùa Vọng là cơ hội cho con người bình tâm nghiệm chứng về những lời dạy của Chúa Giêsu. Mùa Vọng là thời điểm hàng năm được dùng để nhắc nhở con người hồi tâm, thêm một lần nhắc nhở chính mình cần suy nghiệm, suy tư về Phúc Âm hầu nhập tâm những lời giảng dạy này và áp dụng nơi cuộc đời của mình.

Mùa Vọng không phải là thời gian chuẩn bị chờ đợi Chúa đến như thường được nghe ai đó vô tình nói bởi Chúa Giêsu đã nhập thể từ hơn hai ngàn năm trước. Mỗi năm, Giáng Sinh nhắc nhở thực thể Thiên Chúa hiện thể làm người giữa lòng nhân loại, riêng nói về thân phận Chúa Giêsu. Hơn thế nữa theo Phúc Âm Gioan, “Người vẫn ở trong thế gian, và Thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết người” (Gn.1:10).

Thiên Chúa là cội nguồn hiện hữu. Thiên Chúa hiện diện nơi mọi sự, mọi vật hiện hữu dù hữu hình hay vô hình. Và như thế, không có sự hiện hữu của Thiên Chúa thì sẽ chẳng có gì hiện hữu. Thiên Chúa hiện hữu và hoạt động nơi Chúa Giêsu cũng chính là Thiên Chúa hiện hữu và hoạt động nơi mọi loài mọi vật.

Bởi thế, Mùa Vọng cũng là cơ hội nhắc nhở cho con người cần nghiệm chứng về thực thể hiện hữu của Thiên Chúa nơi chính mình.

Được có cuộc đời nơi thế giới nhân sinh, con người quá bận rộn mưu cầu sinh sống nên lãng quên nhận biết về thực thể chính mình. Mình từ đâu tới? Vì lý do, nguyên nhân nào được làm người? Mục đích cuộc đời của mình là gì? Đâu là phương cách, đường lối giúp nhận biết chính mình? Biết bao khung cảnh trang trí mừng Giáng Sinh không mang bóng dáng Chúa Hài Đồng. Biết bao tâm hồn tuyên xưng tin vào Thiên Chúa, tin vào Chúa Giêsu nhưng không để ý Chúa Giêsu đã giảng dạy những gì. Tất nhiên những hang đá, trang hoàng mừng Giáng Sinh vắng bóng Chúa Hài Đồng thì cũng chỉ là những hang đá lạnh lẽo nơi thâm sơn, cùng cốc từ ngàn xưa cho tới ngày nay.
Lã Mộng Thường

   

Các Biểu Tượng và Ý Nghĩa Thiêng Liêng của Mùa Vọng

Chủ Nhật ngày 2 tháng 12 này là Chủ Nhật đầu tiên của Mùa Vọng, có rất nhiều biểu tượng mà chúng ta thường hay thấy trong Mùa Vọng, nhưng không hiểu rõ mấy về ý nghĩa thiêng liêng của chúng, bài viết ngắn này hy vọng sẽ giải tỏa được phần nào những thắc mắc đó.. ..

Vòng Hoa Mùa Vọng
(1) Vòng Hoa (Wreath)

Kể từ thời xưa cổ, một vòng hoa là tượng trưng cho sự chiến thắng. Hình tròn của vòng hoa là nhắc nhở cho chúng ta biết về tình yêu thương bất tận của Thiên Chúa, dành cho chúng ta.

(2) Màu Xanh của Vòng Hoa (The Green Color of the Wreath):

Màu xanh lá cây chính là màu chỉ năm phụng vụ, vốn diễn tả về niềm hy vọng trong tình yêu thương bất diệt của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Những cành của cây thông quanh năm suốt tháng đều có màu xanh lá cây. Những cành cây lúc nào cũng có màu xanh này cùng gộp lại với nhau để hình thành nên một vòng hoa là nhắc nhớ cho chúng ta biết rằng: Thiên Chúa và sự Mạc Khải của Ngài thì không bao giờ thay đổi, cũng giống như cây thông, lúc nào cũng xanh tươi vậy.

(3) Các Ngọn Nến (The Candles):


 

Christmas_Candles

Ánh Sáng Chúa Kitô

Có 4 cây nến được phân chia ra theo đúng khoảng thời gian của Mùa Vọng. Mỗi cây tượng trưng cho một trong "4,000 năm" mà Thánh Kinh được trao ban cho chúng ta kể từ khoảng thời gian mà Ông Adong qụy ngã vì tội lỗi cho đến khoảng thời gian sinh hạ ra Đấng Cứu Chuộc nhân loại.

Cây nến màu tía (purple) đầu tiên được thắp sáng lên vào ngày Chủ Nhật Đầu Tiên của Mùa Vọng và trong suốt tuần lễ đầu tiên đó. Màu tía tượng trưng cho khoảng thời gian chuẩn bị, và ăn năn hối cải, cũng như tượng trưng cho sự vương giả.

Cây nến màu tía thứ nhất và thứ hai đều được thắp sáng lên vào Chủ Nhật Thứ Hai của Mùa Vọng và trong suốt tuần lễ thứ hai đó. Khi cây nến thứ hai được thắp sáng lên, thì ánh sáng từ vòng hoa trở nên sáng sủa hơn (không còn mấy tối tăm nữa), cũng giống như sự hồi hộp và mong chờ ngày hạ sinh của Đấng Cứu Thế nơi tâm lòng chúng ta ngày càng gia tăng lên vậy.

Vào Chủ Nhật Thứ Ba của Mùa Vọng, vốn được biết đến như là Chủ Nhật Gaudete (Gaudete Sunday), thì cây nến có màu giống như bông hồng được thắp sáng lên cùng với hai cây nến màu tía. Bông hồng tượng trưng cho sự mừng rỡ, sướng vui và niềm hân hoan sắp tràn dân của mọi người tín hữu. Đây là khoảng thời gian đặc biệt khi chúng ta hồ hỡi với niềm vui và sự rạo rực về việc Chúa Kitô sắp sửa đến với chúng ta trong hình hài của một Hài Nhi Bé Nhỏ.

Và cây nến màu tía cuối cùng sẽ được thắp sáng lên trong ngày Chủ Nhật Thứ Tư của Mùa Vọng ám chỉ đến việc chúng ta mãi sốt sắng và kiên trì hơn rất nhiều trong việc chuẩn bị cả thể xác, tâm hồn lẫn con tim để đón nhận Thiên Chúa trong Mùa Giáng Sinh.

Cây nến màu trắng (thêm vào) được thắp sáng lên trong Ngày Giáng Sinh và trong suốt Mùa Giáng Sinh nhằm nhắc nhở cho chúng ta biết và ý thức hơn về ánh sáng vẹn toàn và nguyên thủy của Chúa Kitô, chứ không phải ánh sáng giả tạo hay lòe loẹt nhưng u tối của ma quỷ và tội lỗi. Trong tư cách là những người Kitô Hữu, chúng ta đón nhận và đem ánh sáng đích thực của Chúa Kitô vào trong thế giới, để cùng sẽ chia những niềm vui và ơn phúc mà chúng ta đã lãnh nhận được từ chính Ngài.

Nói tóm lại, Mùa Vọng chính là mùa của Sự Đợi Chờ cùng với niềm Hy Vọng về Ánh Sáng của Chúa Kitô: Ánh Sáng của Cả Thế Giới!

Nguyện chúc cho mọi gia đình Công Giáo Việt Nam chúng ta có được một Mùa Vọng thánh thiện và hoàn toàn mới mẽ lẫn sinh động hơn so với những Mùa Vọng đã qua!

Anthony Lê


MÙA VỌNG và GIÁNG SINH

"Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm"

Trước 2000 năm Chúa giáng sinh, các dân tộc trên thế giới đều có những ngày lễ khác nhau vào tháng 12. Ở Ägyptern/ Egypt mừng sinh nhật Horus, Ấn Độ mừng chúa Ánh sáng (Lichtgotte), người La Mã cổ mừng ngày hội Saturnalien. Tất cả các quốc gia có nhiều lễ lộng lẫy riêng biệt. Năm 217 Đức Giáo Hoàng Hyppolist ngài chọn 25.12 là ngày Chúa giáng sinh và qua các mùa Vọng.

Mùa Vọng (Advent) đầu tháng 12, các trung tâm thương mãi bán hàng Giáng sinh và năm mới, những cây thông bằng nhựa treo đèn màu, kết hoa đỏ, hình sao... trang điểm cho hàng quán thêm rực rỡ. Trước các công sở, hãng xưởng những cây thông kết đền sáng lung linh. Mọi người đang mong chờ ngày Chúa giáng trần.

thienthan


Danh từ Mùa Vọng bắt nguồn từ tiếng La Tinh "Adventus", có nghĩa là đến. Ngay từ thời Cựu Ước, nhân loại đã mong đợi Đấng Cứu Thế ra đời.. Đức Chúa cha đã để con Một của ngài là Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người tại Belem cách đây hơn 2000 năm. Ngài đến trong mầu nhiệm Giáng sinh của Giáo hội. Ngài đến để xét xử kẻ sống và kẻ chết. Ngài ban cho chúng ta những ân sủng.

Lễ Giáng sinh là ngày quan trọng, nên người ta thường dành thì giờ về sum họp gia đình, tặng qùa trong đêm Thánh vô cùng, ăn «Réveillon». Ở Đức nghỉ việc từ chiều 24, 25 và 26 tháng 12. Sau ngày Gáng Sinh những cửa hàng, siêu thị trở nên vắng lặng, các hàng bán pháo bông đủ loại cho đến chiều 30 tết. Nhiều người đi trượt tuyết, đón giao thừa ở vùng núi cao, hay một thành phố xa lạ nào đó. Ngược lại người Việt theo phong tục Á Châu rất trọng 3 ngày Tết thường ở nhà đón xuân, vui chơi với gia đình, bà con họ hàng.

Vòng hoa Mùa vọng

Vòng hoa mùa vọng có bốn cây nến mang màu của phụng vụ: 3 cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây màu hồng dùng cho chúa nhật thứ 3, mùa vọng nói lên niềm vui như Thánh Phao lô kêu gọi: Hãy vui lên... vì Chúa đang đến! ánh nến tượng trưng cho sự chờ đợi và hy vọng vào ngày Chúa đến.Vòng hoa mùa vọng với cành lá xanh tượng trưng cho sự sống muôn đời. Hạt giống, trái hồ đào dùng để trang trí trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời sống Kitô hữu.

Thứ bảy đầu tháng Adventsonntag đốt cây nến số 1, vào bửa ăn tối trong mùa vọng gia đình thường thắp nến.. Những cây nến này sẽ thắp trong suốt mùa Giáng sinh. 4 cây nến tượng trưng một trong bốn ngày thứ bảy tuần lễ đợi Chúa sinh ra đời. Vào đêm Giáng sinh, tất cả cành lá có thể đổi mới và đổi 4 nến màu thành nến trắng, tượng trưng cho Chúa Kitô. Vòng hoa mùa vọng với bốn cây nến cũng tượng trưng cho cuộc chiến của các Kitô hữu chống lại bóng tối của đời sống. Phong tục tốt đẹp này mới có từ thời gian gần đây. Thần học gia Tin lành Johann Wichern tại Hamburg vào năm 1838 đã thắp lên mỗi ngày trong mùa Vọng một cây nến và cắm trên một giá gỗ hình tròn. Vào ngày lễ Giáng Sinh căn phòng rực sáng với ánh nến. Ánh sáng nến tượng trưng cho Chúa Kitô, ánh sáng trần gian. Các năm sau đó người ta trang trí bức tường nhà bằng những nhánh thông xanh. Năm 1860 người ta cũng trang trí khung gỗ tròn bằng những cành thông, 28 cây nến gom lại còn 4 cây tượng trưng cho 4 tuần. Và thế là vòng hoa mùa vọng được phát sinh. Đầu tiên phong tục này được các gia đình Tin lành thực hành,sau đó vòng hoa mùa vọng được treo trong nhà thờ Công giáo năm 1925 tại Köln. Từ năm 1935 các vòng hoa mùa vọng trong gia đình cũng được làm phép. Phong tục này đã phổ biến từ miền Bắc nước Đức và ngày nay đã lan truyền đến nhiều nơi trên thế giới.

Sinh hoạt thay đổi từ đầu tháng 12, tại Ðức tất cả siêu thị thứ bảy mở cửa đến 20 giờ (khác Hoa kỳ mở cửa luôn cuối tuần). Các chợ (Weihnachtsmarkt/ Chriskindlmarkt) không bán các loại hoa mai, hoa anh đào như chợ tết Việt Nam dù có nhập cảng nhưng vì thời tiết lạnh các loài hoa đó không thể nở hoa..phần lớn trong mùa Gíang sinh và Tết có chợ bán thông xanh cao đến 2m50, (Weihnachtsbaum/ Christmas tree)

Ngày 6/12 nơi nhà trẻ, trường tiểu học, các siêu thị lớn Nikolaus/ ông già Noel thường xuất hiện phát kẹo cho trẻ em. Ông già Noel mang túi lớn bằng vải chứa kẹo chocolade, trái cây cho trẻ em và cả khách hàng kèm theo quảng cáo với những chiếc bong bóng tròn đủ màu. Ngày nay đôi khi các cô xinh đẹp làm Nikolaus hay làm một Thiên thần đi bên cạnh Ông già Nikolaus chống gậy.

Ông già Giáng Sinh Père de Noel /Nikolaus/ Santa Claus/Sinterklass/ Nikola

Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa Giáng Sinh là ông già Noel mà ai cũng biết. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu xứ lạnh, đi giầy đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết. Nikolaus có từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại quận Patara thuộc phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được phong thánh mới có tên là Nikolaus. Từ 6 tháng 12 xuất hiện Nikolaus, nhưng phải phân biệt Nikolaus và Weihnachtsmann.

Vào thế kỷ thứ 10 từ đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp, là vợ Hoàng Ðế Otto II của Ðức để nhớ thánh Nikolaus nên từ năm 1555 tại Ðức nguời ta may áo quần màu đỏ, đội tóc trắng, mang râu, giả làm Nikolaus, hình ảnh Nikolaus xuất hiện trở lại với ý nghĩa mang tình thương đến với mọi người. Weihnachtsmann xuất hiện từ năm 1933 do quảng cáo của hãng Coca Cola. Hình ấy được thấy trên màn ảnh Tivi suốt mùa Giáng Sinh

Ông già Noel theo tiếng Pháp Père de Noel, tiếng anh Santa Claus, tiếng Hòa-Lan Sinterklass.Theo tài liệu trước khi được phong thánh ông Nikolaus là người giầu có, nhân từ. Vào đêm Giáng-Sinh, ông được Thiên chúa mặc khải, đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ thành sự thực, bằng cách mua quà bánh để biếu những kẻ nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.

Có tài liệu cho biết, ông già Noel được phong Giám mục vào thế-kỷ thứ 3 sau TL. Sau khi được phong thánh, Nikolaus trở thành người đỡ đầu của các thương nhân, thủy thủ và trẻ con. Ông qua đời vào ngày 6/12, không nhớ năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người đạo đức, giàu lòng nhân từ bác ái. Hình ảnh người mặc áo màu đỏ của Nikolaus thuở nào, đến từng nhà có trẻ con thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng Sinh.

Theo truyền thuyết ông già Noel trở lại trần gian, theo đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để đồng tiền hay bánh kẹo vào trong chiếc vớ hay chiếc giày cho trẻ con treo gần giường ngủ hay lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi thơ trong đêm Giáng Sinh. Bởi thế Cha mẹ thường mua qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này khuyến khích trẻ em nên làm điều thiện để được ông già Noel tặng quà

Ðêm Thánh vô cùng / Heiligabend /silent night

Chúa chào đời ngày 25 tháng 12 trong máng cỏ nghèo hèn đã để lại cho nhân loại lịch sử suy niệm, từ đó hàng năm tín đồ Thiên Chúa Giáo cử hành lễ Giáng Sinh rất long trọng khắp nơi trên thế giới. để tưởng nhớ ngày Chúa ra đời bên thành Bêlem/Bethelem, trên phần đất nghèo nàn thuộc lãnh thổ Do Thái / Israel.

Sự nhập thế của Chúa Hài đồng trong máng cỏ nghèo đã có những hiện tượng lạ theo sự hướng dẫn của ngôi sao kỳ diệu, các vị vua vùng lân cận đã tìm đến hầu Ngài (trong lễ ba Vua). Mọi người trên thế giới đều thờ kính Ngài con một của Chúa cha đã xuống thế làm người và chịu chết trên cây Thánh giá.

Lễ Giáng sinh thường giống nhau, nhưng có sự thay đổi chi tiết tùy mỗi địa phương trên thế giới. Tại VN các thành phố hay giáo phận Thiên Chúa Giáo thường cử hành Thánh lễ Giáng sinh vào đêm 24 tháng 12 hàng năm.

Trong vô số những bài ca, người ta còn nhắc nhở đến những bài thánh ca bất hủ, trở thành những bài ca quốc tế, dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong số đó bài thánh ca "Đêm Thánh Vô Cùng" của nhạc-sĩ thiên tài người Áo là Franz Xaver Grubert (1787-1863). Năm 1840 nhạc-sĩ Franz Grubert là người đệm dương cầm cho Giáo đường nắm cạnh bờ sông Danube. Grubert báo cho Cha Sở Joseph biết rằng vào giờ chót đàn dương cầm hư, không thể sửa được, xin cha chọn bài hát khác không cần đệm dương cầm

Chính cha Josep viết liền lời thánh ca và nhạc sĩ Grubert phổ nhạc ngay tại chỗ. Đêm Giáng Sinh năm 1840, bài thánh ca Weihnachtslied "Silent Night/ Đêm Thánh Vô Cùng" ra đời và được hợp ca với một cây đàn nhỏ phụ họa. Đó là bài thánh ca bất hủ, lưu truyền đến bây giờ.

"Đêm thánh vô cùng giây phút tưng bừng. Đất với trời xe chữ đông; Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh khuya giáng sinh trong chốn hang lừa, ơn châu báu không bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền. Ôi Chúa Thiên đàng cam mến cơ hàn, nhấp chén phiền vương phong trần. Than ôi Chúa thương người đến quên mình: bỏ vô chốn quê nhà lúc sinh thành. Ai ham sống trong lạc thú. Nhớ rằng Chúa đang đền bù. Tinh tú trên trời. Sông núi trên đời với Thánh Thần mau kết lời, Cao rao Hóa công đã khéo an bài. Sai con hiến thân mong cứu nhân loại. Hang chiên máng rêu tạm trú bốn bề tuyết sương mịt mù..."

santaclaus


Không phân biệt tôn giáo đêm 24/12 mọi người đều vui mừng ngày Chúa ra đời. Người Việt Nam mừng Giáng sinh như người Tây phương, sau khi dự thánh lễ, các gia đình công giáo Việt Nam vẫn giữ tục ăn "Réveillon" vào lễ nửa đêm, thời tiết ở Việt Nam ấm áp nên Thánh lễ đêm 24 đông người tham dự, người không theo Thiên chuá cũng đến nhà Thờ, đường phố đông người, dập dìu tài tử gia nhân, ngựa xe như nước áo quần như nêm“ Ở Huế khu Phú Cam nhà Thờ cao với ngôi sao lộng lẫy, hang đá sáng trưng tỏa ra từ những cây nến trắng. Đà Nẵng khu Thanh Bồ, Đức Lợi phần lớn người Bắc di cư người ta lo lễ Giáng Sinh rất lớn. Thánh lễ cử hành trước nhà Thờ Chánh toà trên đường Độc Lập rất trang nghiêm. Sài Gòn từ Vương cung Thánh Đường nhà thờ Đức Bà đến Dòng Chuá Cứu Thế nơi nào cũng đông người tham dự. Ngày xưa dù thời gian chiến tranh nhưng trên lý thuyết hai bên đều ngưng bắn để mừng Giáng sinh. Ở Đức đêm 24 là đêm của gia đình đường phố vắng lặng dưới bầu trời lạnh buốt cùng tuyết trắng.

Người Tây phương mừng Giáng sinh vào đêm 24.12 nhưng mỗi quốc gia có phong tục văn hoá khác nhau. Ngoại trừ Hy Lạp Griechenland/ Greece theo Cơ Đốc Giáo mừng lễ Giáng sinh vào ngày 6, ở Hy Lạp không có Nikolaus nhưng có Thánh Vassilius, đêm mùng Một tết để quà tặng trước giường ngủ cho trẻ em. Armenien/ Armenia vào ngày 18/19 tháng giêng.

Từ thế kỷ thứ 8 người Ðức đã đón mừng Giáng Sinh, đêm 24 họ đi Thánh lễ sau đó gia đình quây quần bên cây thông được kết đèn màu, hoa trái, dưới gốc thông là những gói qùa để trao nhau, bửa ăn tối thường theo truyền thống có ngỗng quay, (Weihnachtsgans) các loại bánh Weihnachtstollen, Blättchen, rượu nho vv.. cây thông để đến ngày lễ Ba vua.

Miền New England dân chúng ăn tiệc mừng Giáng Sinh theo người Anh. Trong bữa ăn "Réveillon" nửa đêm, luôn luôn tổ chức trọng thể có một loại rượu đặc biệt, chế bằng nước trái cây ép với vài hương liệu Đông Phương như đinh hương đậu khấu và rượu nho. Thứ rượu đặc biệt trên phải hâm nóng, uống như rượu saké của Nhật, để chống lại cái lạnh bên ngoài. Tại Ðức cũng có loại rượu nho Gluehwein hâm nóng bán tại các chợ trong mùa Giáng sinh

Người Island mùa Vọng từ ngày 12 đến 24 mỗi ngày thường bỏ những món quà nhỏ trong giày tượng trưng quà của Nikolaus dành cho trẻ con. Chiều 24 bắt đầu bữa tiệc mừng Giáng Sinh, sau đó họ đi thăm nghĩa trang mang đến những tràng hoa và đốt nến trên mộ phần người thân, ở Ý Italy họ không dùng cây thông trang điểm cho mùa Gíang sinh, nhưng họ làm hang đá và ăn tiệc đêm 24. cho đến lễ Ba Vua 6.1, họ bỏ kẹo bánh vào chiếc vớ hay giày làm qùa cho trẻ con. Người Tây Ban Nha Spanien/Spain và Bồ Đồ Nha Portugal chỉ tặng quà vào lễ Ba vua. Hòa Lan Niederlande/ Netherlands từ 6/12 hàng năm họ tổ chức rước lễ lớn ở hải cảng Amterdame và trong đêm giao thừa các gia đình mang ra đường đốt những cây thông (Christbäume) cùng với tiếng pháo tống cựu nghinh tân. Vùng Đông âu giá lạnh như Schweden/Sweden mùa Giáng sinh cũng là ngày chí điểm (Sonnenwende/solstice) khởi điểm mùa Đông và Jul-Fest. Chiều 24 sau 15 gìờ trời sẩm tối, quà tặng Giáng sinh là các con dê đực bằng rơm và lò sưởi họ đốt than củi từ 24.12 đến 6.1 chấm dứt giáng sinh vào ngày 13 cũng là ngày Thánh Knut. Họ ném những cây thông qua cửa sổ đó cũng là một phong tục.

Người Mỹ đoàn tụ gia đình ngày thứ năm cuối tháng 11 mừng Thanksgiving/ Danke schöne hàng năm, để tạ Thượng Đế tạ ơn đời và ơn người cùng ân phúc của trời đất, trong đêm Giáng Sinh mọi gia đình cũng tổ chức ăn uống, trao đổi quà tặng cùng những lời chúc tốt đẹp nhất cho Giáng Sinh và năm mới.

Ngôi sao Giáng Sinh:

Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ mầu sắc trong mùa Giáng sinh, các nhà thờ đều có treo vô số ngôi sao 5 cánh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.

Ngôi sao trong lễ Giáng sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn nhìn thấy. Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp Chúa Từ đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng đến căn nhà nhỏ. Đúng như lời tiên tri của ông Simêon, Hài nhi nầy sẽ trở nên ánh sáng soi cho muôn nước. Theo tục Đông phương thăm với qùa tặng Ba Vua quì lạy dâng lên Chúa Hài Đồng các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc.

Ngôi sao Holley trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng Đế

Cây thông

Mùa Đông lạnh lẽo chỉ có cây thông xanh tươi có thể sống với khí hậu băng giá. Để có sự hòa hợp con người và thiên nhiên từ năm 1660 người Đức dùng cây thông xanh tươi, có mùi thơm tràn đầy nhựa sống, trang điểm thêm đèn, các lọai trái châu màu,. .. ở nhà và nhà Thờ trong mùa Giáng sinh. Cho đến thế kỷ thứ 19 được thế giới biết đến.

Hang đá và máng cỏ

Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong lễ Giáng Sinh là do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem. Để nhớ lại hình ảnh nghèo khổ của Chúa lúc mới ra đời, đem thân để chuộc tội cho nhân loại.

Ðêm 24/12 các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ, bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria, chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số Thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Mọi người đều hướng về Chúa nhân từ, cầu nguyện Chúa cứu rỗi cho nhân loại tránh bớt chìến tranh nghèo đói và độc tài

"Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Belem ánh sáng tỏa lan tưng bừng nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng. Ðàn hát (réo rắt tiếng hát) xướng ca dư âm vang xa. Ðây Chúa Thiên Toà Giáng sinh vì ta.. Người hỡi (hãy kíp bước tới) Đến xem 8 nơi hang Be Lem). Ôi Chúa Giáng sinh khăn thấp hèn. Nửa đêm mừng Chúa giáng sinh ra chốn gian trần. Người đem ơn phúc xuống cho muôn dân lầm than..."

Munich ngày 18.12.2008 Nguyễn Quý Đại

 

Mùa Vọng

Hai đặc tính mùa Vọng nhấn mạnh tới hai điều cơ bản: Dọn mình đón nhận Chúa Giáng Sinh và đón chờ ngày Chúa Quang Lâm. Với hai điều cơ bản này đều nhắc tới một thái độ sống duy nhất tỉnh thức và cầu nguyện. Vọng chờ với thái độ sống như trên, chúng ta thấy có sự khác biệt và tương đồng với chữ Vọng trong Phật Giáo được trình bày như sau:

Chữ Vọng:

Vọng được định nghĩa là: Chỗ nơi đặt vị trí quan sát. Hướng tới, nhìn về, tưởng nhớ, trông đợi. (Âm thanh): Từ xa đưa lại. Với ba ý nghĩa trên cũng tạm cho thấy từ ngữ diễn tả những đặc điểm quan trọng và cần thiết dần dà suy gẫm.

Vọng trong Phật Giáo phân thanh hai loại: Vọng ngã và vọng chấp.

Vọng ngã là cái vọng tự nhiên của con người sống kỳ vọng về chính mình: Ước muốn sống lâu hơn, dồi dào hơn về vật chất hay tinh thần hoặc sức khỏe, vọng tới tương lai vọng tới quá khứ. Vọng ngã dẫn tới hệ lụy buốn phiền, sầu não vì cuộc đời không được như ý, tiếc nuối những gì đã qua, đôi khi còn dẫn tới trí trá, lừa dối, ghen tỵ… Vọng ngã gây phiền muộn có khi vì mơ ước có sức khỏe tốt hơn nhưng thân này cứ mang bệnh tật, ước mong khá giả hơn nhưng cứ nghèo túng, có được tiếng tốt hơn nhưng cứ bị người đời cười chê…Kỳ vọng mà không được thì sinh ra phiền muộn, đau khổ.

Vọng chấp là cái vọng so sánh mình với người khác: Không được như người hoặc tự khoe khoang hơn người, cả hai thái độ so sánh đều khập khiễng vì mang những hệ lụy khổ đau phiền muộn. Thái độ so sánh thua kém mang tính mặc cảm tự ty, một đau khổ âm thầm day dứt con người thấp bé, một thái độ khác mang sắc thái tự tôn khiến cản trở không tiếp nhận gì được nơi người khác khiến chính mình tự làm nghèo đi trong cuộc sống.

Lối thoát: Không còn vọng chấp cũng chẳng còn vọng ngã, an nhiên tự tại sẽ xuất hiện. Không còn vọng nên sẽ không còn phải mang những cái đau khổ không đáng có, con đường ra khỏi vọng là con đường quẳng gánh lo âu đi mà vui sống. ví như người đang cầm chén cơm ăn, dù là đang ăn với rau luộc chấm nước mắm, biết mình đang co ăn là cái hạnh phúc của thực tại nhân sinh, nhưng vừa ăn vừa trông vào cái nghèo của mình sẽ dẫn đến đau khổ. Lý thuyết xem ra dễ dàng nhưng khó thực hiện bởi cuộc sống vẫn cứ phải âu lo về cái ăn, cái mặc, đặc biệt hơn vào những giai đoạn khó khăn về kinh tế, làm sao có thể có an nhiên tự tại?

Vọng theo hướng nhìn của Kitô giáo:

Vọng biểu hiện trong hai chiều kích: Tỉnh thức và cầu nguyện.

Tỉnh thức: Hình ảnh biểu trưng cho người tỉnh thức là hình ảnh của người mục tử. Người mục tử không hiểu đơn giản như nhiều người thường nghĩ ngay đến các chú nhỏ mục đồng chăn trâu vài ba con. Người mục tử chăn chiên trong văn hóa du mục là người chăm sóc cả bầy cỡ vài trăm đến vài ngàn con chiên. Tài sản càng lớn thì người chịu trách nhiệm càng cao, vì thế người mục tử là người mang tính chất của người mạnh mẽ, khôn ngoan, cương nghị. Người mục tử có tầm nhìn xa, dự đoán được tương lai, biết xem xét nhiều khía cạnh để có những quyết định tối ưu trong hiện tại. Người mục tử thứ thiệt là người biết chăm sóc cho đoàn chiên của mình, vừa bảo đảm tương lai vừa bảo vệ trong hiện tại. Người mục tử còn được gọi là người canh gác, nhìn đâu là sói, đâu là thỏ, đâu là hiểm nguy thật và đâu chỉ là chướng ngại không đáng. Theo nghĩa người canh gác, người mục tử là người nhận thức rõ ràng, đòi hỏi những con số minh bạch, nói theo ngôn ngữ những nhà đầu tư hôm nay. Chỉ số minh bạch trong kinh tế ngày nay cũng giống như đòi hỏi của người mục tử năm xưa, không dẫn đoàn chiên mình vào những đồng cỏ xen lẫn nhiều bụi rậm, ẩn khuất nhiều bóng tối, đồng cỏ đòi hỏi phải quang đãng, nhìn thấy rõ những gì từ xa đến, bởi vậy người mục tử năm xưa mới chọn cho mình cách thức hướng dẫn là người đi trước, người dẫn đường, chỉ lối, là người chịu trách nhiệm về đàn chiên của mình.

Cầu nguyện: Người tỉnh thức song đồng thời cũng là người sống đời cầu nguyện, bởi vậy tính cách biểu trưng của người mục tử năm xưa còn biểu hiện là cầu nối giữa trời và đất, người liên thông được với trời, người hiểu biết ý trời. Theo Jean Chevalier, người mục tử còn là người đại diện cho các linh hồn con người trên cõi đời này, luôn luôn chuyển dịch, nên người mục tử bao gồm hai sứ vụ bảo vệ và am hiểu, người chuyển cầu và người chịu trách nhiệm.

Chúa Giêsu nhận mình là Người Mục Tử nhân lành (Ga 10, 16), Người Mục Tử mà tất cả các tiên tri đều giới thiệu trước, sẽ đến chăn dắt dân của Người, là Hoàng Tử Bình An Vua Thái Bình.

Con đường của mùa vọng giống như người Phật tử là phát quang đi cái vọng gây phiền muộn, đau khổ, người Kitô hữu được Gioan Tẩy Giả mời gọi: Bạt đi núi cao, lấp lại những hố sâu, sửa ngay những con đường cong queo. Và điểm khác biệt giữa người Kitô hữu và Phật tử là: Người Phật tử phát quang cái vọng để lòng trống trải, an nhiên tự tại xuất hiện, người Kitô hữu sửa lại lối đi để đón nhận chính chúa Giêsu sinh hạ trong tâm hồn và đón nhận Chúa đến trong ngày quang lâm.

Lời kêu gọi của Gioan Tẩy Giả là lời mời gọi thức tỉnh và cầu nguyện theo đúng như hình ảnh “Người Mục Tử Nhân Lành” của mình, với “tay sạch lòng thanh” hội đủ khả năng dẫn hướng đời mình và chịu trách nhiệm về thế giới mình đang sống. Thế giới cần có nhiều người chăn dắt theo gương lành của Chúa Giêsu, để xây dựng thế giới an bình và thịnh trị.

Tỉnh thức và cầu nguyện là thái độ cần thiết cho con người của chúng ta hôm nay, xin cho thế giới chúng ta có thêm nhiều mục tử như lòng Chúa mong muốn.

L.m Giuse Hoàng Kim Toan